PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Chùm truyện ngắn lịch sử của Uông Triều - Nước mắt sông Cầm



ptvinhvl
08-03-2011, 01:10 PM
Nước mắt sông Cầm

Từ đầu năm nay, nhà văn trẻ Uuong Triều ( Nguyễn Xuân Ban) đã chính thức trở thành thành viên của Tạp chi Văn nghệ Quân đội.Trước đó anh là giáo viên dạy tiếng Anh tại Quảng Ninh.Tuy chỉ viết văn "tay trái" nhưng Uong Triêu đã được bạn đọc trong nước chú ý qua những sáng tác được giới thiệu trên các tờ báo văn chương lớn ở thủ đô và tại nhiều địa phương trong cả nước .Từ nay được làm việc tại "nhà số 4",được "viết văn bằng tay phải" ,chắc hẳn Uông Triêu sẽ viết hay, viết khỏe hơn? Nhân dịp mừng anh chính thức dấn thân vào "nghiệp văn chương một cách chuyên nghiệp",chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một chùm truyện ngắn ,viết về đề tài lịch sử của anh… Phạm Nhan là một trong những cái tên khiếp sợ nhất trong dân gian một thời gian dài. Nhan tên thật là Nguyễn Nhan, tên chữ là Nguyễn Bá Linh.

Cái tên Phạm Nhan liên quan tới một giai đoạn nhiều biến cố trong lịch sử dân tộc. Truyền thuyết dân gian nói rằng Nhan đã hóa thành một loài vật ghê tởm sống trên dương gian.


Quê ngoại Nhan ở làng An Bài, huyện Đông Triều. Mẹ Nhan người Việt, bố người Hoa, tổ tiên sống nhiều đời bên bến sông Cầm.


Người đàn bà mang thai đưa cái bụng nặng nề đi quanh làng An Bài cho dễ sinh. Những phiến đá xanh trơn trượt, người đàn bà mím môi, bấm ngón chân đi bên rìa đường cho vững. Gió thổi quất mặt. Lá xoan bay như rắc. Nước sông Cầm vỡ xóa. Trời vặn mình đau đớn. Đứa con sắp ra đời.



Nhan sinh ra.


Một thằng bé bình thường.


Bà mụ cắt dây rốn bằng cật nứa sắc.


Người đàn ông Hoa kiều chết trong một lần đi buôn thuyền trên sông Bạch Đằng. Nhan mồ côi cha. Người đàn bà góa lấy sông Cầm và những vực nước gần nhà làm nơi kiếm sinh nhai.


Mùa hè: dấm cáy.


Mùa đông: mò ốc.


Tháng Chín đôi mươi, tháng Mười mùng năm: đi hớt rươi ở bãi triều ven sông.
Chợ Cột là nơi mẹ con Nhan và người dân làng An Bài đưa những thứ kiếm được mang ra bán.



Chợ Cột.


Chợ Cột.


Những mái lá buộc trên chóp cây cho khỏi nắng.


Hàng thân cột đốn từ núi Đông Bắc xếp chằn chẵn chuẩn bị mang ra bến Kinh Thầy.


Dăm mớ tôm, mớ ốc đựng trong rá phủ lá tre.


Lò bễ đỏ, nước xèo xèo, búa vung chong chóng.


Đàn ông rít điếu bát, nhả khói như nồi nước nóng.


Đàn bà quây quần lụp xụp húp, hàng quà.



Nhan đã cóp nhặt đủ tiền để dành mua một tấm quà. Những người con trai làng An Bài rủ nhau vào rừng hái măng, đốt than, chặt gỗ, thả bè theo sông Cầm, sông Đạm, có khi vào đến tận Yên Tử.


Nước suối trong và lạnh.


Nước sông đục và nồng.


Măng đắng vùng Đông Bắc ăn mãi không biết chán. Mai rừng từng gốc nhỏ mọc rải rác trên núi, mùa xuân điểm những chấm vàng bên những bụi xanh. Những bè gỗ lướt trên sông như con thuyền dát mỏng.


Nhan có một tính xấu: thích rình bọn con gái trong làng tắm dưới sông Cầm. Nhan bò ở bờ sông như con mèo rình chuột, nấp trong bụi cây nhìn trộm. Nhan lặn dưới sông như con rái cá. Con rái cá chìm xuống ngay chỗ có những đứa con gái đang tắm, tay chạm vào bầu vú căng nhọn như mầm măng mới nhú.


...


Bị bắt quả tang.


Những cú tát, cú đá. Chửi rủa. Nhưng thói xấu không sao bỏ được. Bên cạnh nhà Nhan có một đứa con gái mới mười ba nhưng xinh xẻo, dạn dĩ. Con bé ấy tên Nhiên. Nhan thích Nhiên lắm. Nhan đã nhiều lần rình trộm đàn bà, con gái trong làng, nhưng chưa bao giờ dám nhìn trộm đứa con gái hàng xóm mình thích.


Nhiên tắm trong cái ô quây bằng lá mía khô, hở tứ bề. Thấy Nhiên đi về phía ấy, nghe tiếng dội nước là Nhan lảng đi. Nhan sợ đôi mắt của Nhiên, những câu nói như lưỡi dao cứa vào thịt. Nhan bị mẹ đánh vì cái tội nhìn trộm đàn bà con gái, Nhiên bảo.


- Cái tính của Nhan xấu lắm. Nếu Nhan muốn xem, hôm nào ra sông Cầm, tôi tắm cho Nhan xem.


Nhan đỏ tái mặt, không trả lời. Con đực đang gương cung bị lưỡi roi quất vào. Mềm oặt.
Nhan sắp trưởng thành, con đực sắp thành thục. Lời nói sắc như dao không cắt được gót chân dẫm phải gai rừng nhiều lần. Lớn. Nhan càng lười, chỉ thích lêu lổng. Thằng bé mồ côi cha trở thành thủ lĩnh của những trò mất dạy của đám trẻ trong làng. Người đàn bà góa không đủ sức dạy đứa con lếu láo. Chửi mắng. Đòn roi trừng phạt. Roi tre quất vun vút. Nhiên sang nhà hàng xóm, thấy mắt Nhan lừ lừ, đỏ ngầu những tia máu hung tợn.


- Nhiên thì biết gì, tổ tiên năm mười đời nhà tôi cũng bị bốc lộn lên rồi. Trong làng, chỉ có một người không chửi tôi. Tôi phải bỏ ra đi biệt xứ thôi.


Trận đòn cuối cùng khiến Nhan quên mất tính người, hắn chửi cả cái người đã đẻ ra hắn.
Nhan trốn đi trong đêm tối. Hôm đó, đứa con gái hàng xóm ra gặp Nhan ở miếu thủy thần, cạnh gốc cây duối. Con bé đưa cho Nhan cái vỏ ốc ngũ sắc nhặt được ở sông Cầm.


- Nhan đi thì nhớ đến sông Cầm và vỏ ốc ngũ sắc. Người đi thì biết đường trở về.
Nhan cầm vỏ ốc ngũ sắc, xiết chặt trong nắm tay. Lặng chìm. Lặng buồn. Giọt nước mắt cô độc lăn xuống. Nhan lấy chiếc lược sừng trâu giấu trong áo đưa cho Nhiên.


- Chiếc lược này tôi tự mua ở chợ Cột bằng tiền bán cáy đấy, không phải đồ ăn cắp đâu. Nhiên chải đầu thì sẽ nhớ đến tôi. Tôi phải qua sông vào lúc trời tối. Nhiên mượn cho tôi chiếc thuyền.


Nhiên ra bờ sông gỡ con thuyền đang cột chặt vào tảng đá lớn trên bờ, tự mình chèo thuyền đưa Nhan sang bên kia sông Cầm.


Sông Cầm không mong ngày trở về.


Nhiên không mong ngày trở về.


Nước sông ngầu.


Chưa đến ngày con nước rươi.


Đi.


Ngày lấy chồng, Nhiên vẫn đi trên con đường trơn trượt quanh làng An Bài. Qua ngõ nhà Nhan, thấy bờ rào hoa tầm xuân rã rượi trong gió bấc. Nhiên đưa tay lần chiếc lược sừng mang theo. Tiếng khan trong cổ không thoát ra được.


Bỏ đất Việt, vượt sang đất Trung Hoa, Nhan dùi mài kinh sách, sau thi đỗ tiến sĩ và ra làm quan. Khi đó bên Trung Quốc là thời kì cai trị của nhà Nguyên. Năm 1206 thủ lĩnh Thiết Mộc Chân đã thống nhất các bộ lạc du mục, lập quốc ở Mông Cổ, được suy tôn là Thành Cát Tư Hãn. Đội quân viễn chinh của Thành Cát Tư Hãn lần lượt đánh bại các nước Hạ, Kim, Nam Tống, thống nhất được Trung Quốc, uy hiếp cả hai lục địa Á, Âu. Các quốc gia láng giềng rên xiết dưới vó ngựa quân Mông Cổ. Năm 1271, cháu của Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt định quốc hiệu là Đại Nguyên. Nhan ra sức phò trợ đế quốc ngoại tộc. Hắn chuyên tâm nghiên cứu những chước thuật ma quỷ, phù phép, luyện khí công, biến hóa khôn lường.


Nhan dùng tà thuật thâm nhập vào cung vua Nguyên làm việc dâm ô. Hắn thôi miên cung nữ, vẽ bùa, hình thù kì quái lên chỗ kín, thông dâm với nhiều người.


Việc dâm ô lộ ra, lời đồn đại về những hình thù kì quái trên thân thể phụ nữ lan đi. Một đạo sĩ cao tay bí mật nhập thành. Chưa đầy ba sáu ngày, Nhan bị phát giác, chiếu tội phải xử trảm quyết. Tử tù cầu xin tha tội chết để lập công. Hốt Tất Liệt biết có thể lợi dụng liền đồng ý cho gặp. Trước đó, nhà Nguyên đã hai lần cử quân đi đánh Đại Việt (1257/1284) nhưng đều đại bại. Năm 1287, Hốt Tất Liệt tiếp tục sai con trai là Trấn Nam vương Thoát Hoan chỉ huy hơn ba mươi vạn quân chuẩn bị sang đánh Đại Việt lần thứ ba.
Nhan tâu rằng hắn vốn sinh ra ở nước Việt, thông thạo ngôn ngữ, đường đi. Hắn muốn làm hướng đạo cho quân Nguyên. Hốt Tất Liệt chấp thuận và cho Nhan tham dự đoàn quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ sang xâm lăng Đại Việt.


Rước voi về giày mả tổ. Nhan đi như cầm lửa trong tay. Những dòng sông đi qua, sóng cuộn như sông Cầm mùa lũ. Những rừng trúc đại ngàn, măng mọc như chông nhọn. Dãy núi vùng Đông Bắc xiên ngang trời như mũi giáo.



Mẹ hắn hiện về trong mơ.


Đòi giết đứa con bất hiếu.


Những thiếu nữ mất đầu, trần truồng. Những mái nhà lửa cháy, khói bốc ngụt. Vệt máu khô lưu trên trụ giáp. Đêm đêm, Nhan giật mình giữa giấc. Biết đâu trong đám con gái mất đầu có người tên Nhiên, biết đâu những vết máu khô là huyết tộc thân thuộc hay xa xôi của hắn. Tay Nhan đã vấy máu, hắn không thể tự chặt đứt tay mình.


Nhan dẫn đường cho đoàn thủy quân xâm lăng theo đường biển Đông Bắc tiến vào Đại Việt. Binh thuyền giặc tiến qua cửa Vạn Ninh (Móng Cái), rồi vào cửa An Bang (Quảng Yên). Đoàn quân hung hãn chà đạp, giết chóc sinh linh trên đất Việt, Nhan dùng tà thuật giúp đội quân viễn chinh gây nhiều tội ác. Mẹ hắn đã ộc máu chết khi hay tin hắn dẫn giặc về nhà.


Sự hung hãn của đoàn giặc cướp, mưu mô chước quỷ của Nhan cũng không xoay chuyển được tình thế. Quân dân Đại Việt tập kích trại giặc khắp nơi, gây cho chúng nhiều khốn đốn, chờ thời cơ đánh đòn quyết định. Ngày 11 tháng Giêng năm Mậu Tý (1288), đoàn thuyền chở lương tiếp viện cho quân xâm lược do Trương Văn Hổ chỉ huy đã bị Trần Khánh Dư phục kích đánh cho tan tành ở Cửa Lục. Quân Nguyên Mông mất hết lương thực, hoang mang tột độ, phải rút chạy nhục nhã. Trong trận thủy chiến năm 1288 trên sông Bạch Đằng, cùng với chủ tướng là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, Nhan bị bắt sống.


Khuôn mặt pha hai dòng máu của Nhan sớm bị phát giác. Nhan bị đưa đến trước Hưng Đạo Vương. Vương trỏ mặt hắn, mắng rằng:


- Thằng giặc kia, ngươi mang dòng máu Việt mà lại dẫn đường cho quân ngoại bang. Có đày ngươi xuống âm ti cũng không hết được tội.


Nhan gằm mặt, mắt đỏ sọc. Mọi người hỏi nên xử thế nào, Vương bảo:


- Lũ giặc Thát là quân cướp nước nhưng khác nòi giống, đợi xử sau. Thằng giặc này mang dòng máu Việt mà giày xéo tổ tiên. Chém.



Nhan bị lôi ra chém nhưng hắn có ma thuật, gươm chém đều quằn lưỡi, đầu không lìa khỏi cổ. Mọi người kinh hãi tâu lên, Vương lệnh:


- Đưa hắn về làng An Bài, huyện Đông Triều. Khấn vái vong hồn mẹ hắn rồi mang ra chém.



Nhan rùng mình khi nghe thấy làng An Bài, quê ngoại của hắn. Hắn sẽ phải gặp lại bằng hữu ấu thơ, gặp lại đứa con gái hắn chưa bao giờ dám nhìn trộm.


Thằng Nhan trở về làng An Bài.


Không phải về thăm quê ngoại.


Tội đồ phản quốc.


Dân làng An Bài đứng kín bến sông để xem chém đầu Nhan. Thằng Nhan nhanh trí, khôn vặt, hay cãi lại, lếu láo ngày xưa giờ thành tên giặc gian ác đang quỳ sọp ở bờ sông. Nhan gục đầu, không nhìn ai. Người trong làng còn nhớ mặt hắn. Thằng Nhan gầy gò bắt cua, mò ốc ở ven sông Cầm.


Thằng Nhan.
Giặc Phạm Nhan.
Cùng ở bến sông Cầm.
Gió thổi như quất.
Nước sông dâng cao.
Trời chuyển mình ghê gớm.
Cơn giông tố chuẩn bị giáng xuống.



Nhan bị trói trật cánh khuỷu, thu lu như con chó nằm trong rọ, mặt quay ra bờ sông. Những người ruột rà, những đứa con trai, con gái làng An Bài đang vây quanh hắn. Cả một tuổi thơ bùn đất dội về.


Muốn ăn cơm nắm muối vừng,
Thì về chợ Cột đi rừng với anh.

Chân Nhan lún sâu xuống bùn đất sông Cầm, người hắn dần mềm ra, dòng nước mắt khô đang chảy bên trong. Nhan khóc cho vong hồn mẹ hắn. Người đàn bà góa chết vì tủi hổ, uất ức. Ai sẽ tha thứ cho hắn? Nhan khóc như chưa bao giờ được khóc. Nức nở, từng đợt. Dòng nước mắt chảy tràn trong lòng bỏng như nước sôi. Hắn thành mềm nhũn. Đôi mắt đen, sâu hoắm hóa sang nhợt nhạt, tái mét. Những người đàn bà bị hắn rình trộm không còn chửi bới hắn nữa. Hắn là con quỷ đã hết phép. Hắn run rẩy, đái ướt cả quần, nước đái chảy cả xuống bờ sông.


Thằng giặc đái dầm! Chỉ có tiếng trẻ con cười. Không gian nghẹn lại, ngắt quãng.
Thằng Nhan.
Ai ngờ...
Trong đám đàn bà con gái người làng An Bài đứng xem hôm ấy có một người lấy tay che giọt nước mắt sắp rơi xuống đất. Nhiên đưa tay vào túi, cái lược sừng còn nguyên. Nhiên đã không còn chải tóc bằng chiếc lược sừng từ khi hay tin Nhan dẫn giặc về nhà. Nhiên định bụng khi gặp Nhan sẽ ném cái lược cứng vào giữa mặt hắn, những lời như dao sắc đã chuẩn bị sẵn.


Nhan đang ở trước mặt, chỉ cách dăm bước chân. Nhiên mấy lần đưa tay vào túi nhưng bỏ ra tay không. Những lời cay độc không bật ra được, cổ họng khan đặc như khi về nhà chồng. Ruột quặn lên, nổi sóng.
Nhan...
Nhan quỳ gối ở đúng chỗ neo thuyền khi Nhiên đưa hắn qua sông. Bờ cát lõm vẹt đi một đám. Người đàn bà có chồng đã ngồi ở đấy nhiều lần.


Thằng giặc gục đầu, bao nhiêu oai phong, ma thuật đã biến mất. Nhan kìm không để nước mắt chảy ra, nhưng không giữ được nữa. Dòng nước mắt nóng chảy tràn trên mặt hắn. Hắn không còn là tên giặc nhâng nhơn, kiêu ngạo nữa. Hắn chỉ là thằng Nhan sợ mẹ đánh tè cả ra quần. Nước mắt đang chảy mềm hắn. Giống giọt nước mắt buổi chia tay ở bến sông Cầm ngày nào. Nước mắt mặn. Nước mắt sông Cầm. Nước mắt Nhiên.


...


Mờ mờ.

Mẹ hắn mua cho hắn đôi hào bánh. Mẹ hắn không đánh hắn nữa. Con bé Nhiên lấy vạt áo lau nước mắt cho hắn. Hoa xoan li ti tím. Mùi chả rươi lá lốt đầu xóm. Lạch đạch tiếng trẻ con làng An Bài chơi pháo đất...



Nhan giờ mới hiểu vì sao hắn hóa thành yếu mềm. Mẹ hắn, làng An Bài, Nhiên, vẫn chờ ngày hắn về. Không ai lớn tiếng chửi hắn. Hắn đã chuẩn bị nghe những lời độc địa dội vào tai. Hắn đã chuẩn bị đón chịu những ánh mắt khinh bỉ. Hắn đã sẵn sàng giương cái cổ cứng để làm oằn mọi lưỡi gươm giáng xuống. Hắn đã chuẩn bị thành con quái vật không bao giờ chết. Nhưng tai hắn chỉ nghe thấy tiếng gió thổi nhẹ trên sông Cầm, tiếng thút thít của mẹ hắn, tiếng ríu rít của trẻ con làng An Bài. Mùi hương bồ kết mái tóc của Nhiên.


Đầu hắn quay cuồng, mắt hắn hoa lên, bao nhiêu công lực, yêu thuật bao năm rèn luyện tan biến hết. Cổ hắn oặt xuống, không xương. Nước mắt tuôn ra không sao kiềm lại được.


Những người đàn bà.



Nhiên.


Chiếc lược sừng đen bóng.


Mái tóc dài.


Răng cườm đen.


Sông Cầm.


Những đứa con trai, con gái làng An Bài.


Lũ trẻ không trêu chọc hắn nữa. Nước sông Cầm đang chảy dưới chân hắn.


Nhan xin được uống một bát nước đầy. Đứa trẻ gầy gò đưa bát nước vào tận miệng hắn. Nước sông Cầm không nồng, nước sông dịu mát. Những hạt đất mịn tan trong miệng hắn. Dòng nước sông Cầm đang chảy trong người hắn.


Cố hương.


Chính ngọ. Thẻ lệnh ném xuống. Người ta khấn vong hồn mẹ hắn. Kiếm báu mang ra. Tiếng hô cứa đứt không gian. Kiếm giáng xuống. Nhẹ bẫng. Đầu Nhan rơi xuống đất. Máu chảy xuống sông Cầm, đỏ thẫm một vùng. Dân làng An Bài xin được vùi xác hắn xuống dải đất ven sông. Nước sông Cầm sẽ tẩy rửa những vết nhơ trên người hắn.


Dân gian kể rằng khi máu Nhan chảy xuống sông đã hóa thành những con đỉa chuyên đi hút máu người, bởi khi Nhan kêu xin sau khi chết rồi sẽ ăn gì, Hưng Đạo vương trong lúc nóng giận đã nói rằng: “Cho mày ăn sản huyết thiên hạ”. Vì thế hồn ma Nhan gặp đàn bà, con gái khi kinh nguyệt, sinh nở thì quấy nhiễu làm cho ốm đau gầy mòn. Những chuyện đó nửa tin, nửa ngờ.



Một ngày giữa đông, trẻ con làng An Bài nhặt được một vỏ ốc ngũ sắc ở đúng cái vết lõm kì lạ bên bến sông Cầm. Vỏ ốc nhẵn bóng, đưa lên vành tai nghe như tiếng gió từ nơi rất xa thổi về.

ptvinhvl
08-03-2011, 01:11 PM
ĐÔI MẮT ĐÔNG HOÀNG

Tháng 10 năm 2007, tôi là một trong hai tám thành viên Việt Nam tham dự chương trình Tàu Thanh niên Đông Nam Á. Hành trình của chúng tôi đi qua Nhật và một số nước Đông Nam Á. Trong hai tháng đi trên biển và ở trên đất liền, cô bạn người Nhật, Emi Morita kể cho tôi câu chuyện về người ông của mình từng làm phiên dịch trong thời kì chiến tranh ở Việt Nam. Câu chuyện của Emi Morita bắt đầu khi chúng tôi lên tàu ở Yokohama, khi biển rất yên bình và trong đoàn chúng tôi chưa ai bị say sóng cả.

***
Tháng 9 năm 1940 quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương.
Trong hàng nghìn những chiến binh sẵn sàng chết vì thiên hoàng, có một người lính - phiên dịch của quân đội, đến từ Kitakiushu, thủ phủ của đảo Kyushu, phía nam Nhật Bản. Katsu - hai mươi sáu tuổi.
Ở trên bản đồ nước Việt Nam, có một vết chấm nhỏ ghi tên một địa danh ở miền Đông Bắc, huyện Đông Hoàng. Nơi Katsu sẽ phải đến đó trong một thời gian làm công việc phiên dịch.
Katsu đặt chân đến vùng Đông Bắc trong một ngày tháng mười cùng một toán binh Nhật.
Đông Hoàng là một huyện nhỏ nhưng nằm ở vị trí quan trọng, án ngữ con đường vào vùng Đông Bắc và có nhiều đường sông toả đi các nơi. Ở trung tâm huyện lị có cả đồn binh Pháp và đồn binh Nhật.
Khi đoàn binh Nhật đến trung tâm huyện lị, mặt trời đã vượt quá đỉnh đầu. Nắng không gay gắt nhưng không hề có một phút râm mát. Những tia nắng quái như lưỡi cỏ xước quất vào mặt những chiến binh Nhật gươm súng chỉnh tề. Mùa đông ở Đông Hoàng không giống với mùa đông ở Kitakiushu.
Vài đứa trẻ con đứng ở vệ đường tò mò nhìn những người lính Nhật. Những đứa bé hơn nép vào chân mẹ nhìn ngước ra. Không hề có tiếng khóc.
Katsu đã đọc tài liệu trước khi đến Việt Nam. Một đất nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa, nghèo nàn nhưng đã từng đánh bại quân đội của đế quốc Trung Hoa hùng mạnh láng giềng. Người Pháp và người Nhật đang giành quyền kiểm soát ở đây.
Những ghi chép lịch sử báo hiệu một cuộc chiến sẽ không dễ chịu gì. Binh lính Nhật sẽ phải chiến đấu với quân Pháp, người bản xứ, khí hậu, bệnh tật. Một cuộc chiến chưa ai nhìn thấy kết thúc thế nào.
Katsu được phép ngủ một giấc dài trước khi tìm hiểu cụ thể về vùng đất Đông Bắc này. Không khí chiến tranh chưa nồng nặc thuốc súng. Người Nhật và người Pháp đang tạm thời hòa hoãn với nhau, dân bản xứ chưa có biểu hiện chống đối mạnh mẽ nào. Một vùng gió lặng trước khi bão tới? Bão tố đã giúp nước Nhật tránh được hai cuộc xâm lăng lớn của đế quốc Nguyên Mông, nhưng bão tố cũng cướp đi nhiều sinh mạng của chính nước Nhật.
Công việc đầu tiên của Katsu là cùng một toán binh lính Nhật, binh lính người Việt đi thu góp lương thực cho cuộc chiến. Quân đội Nhật nhắm tới đầu tiên là những gia đình giàu có trong vùng, họ tránh chưa vơ vét toàn bộ dân chúng để làm yên lòng người.
Con đường đi vào làng lốm đốm đen những bãi phân súc vật. Mặt đất rụng đầy lá tre úa vàng. Những rặng tre rậm rạp, ken vào như một bức tường thành. Tiếng cành cây cọ vào nhau kọt kẹt như tiếng kéo của những đoàn xe ngựa đưa các lãnh chúa Nhật di chuyển luân phiên giữa các vùng để tránh lộng quyền thời trung cổ.
Những người đàn ông đầu trần, chân không mang bất cứ một loại giầy dép gì, xương gò má bạnh ra, mắt lờ đờ, vác một loại nông cụ trên vai. Nhẫn nhục, cam chịu. Những người đàn bà đội những chiếc nón tụt chóp, chỉ ngẩng một nửa khuôn mặt lên để nhìn. Những chiếc nón lá không giống loại nón ở Nhật. Những người đàn ông, đàn bà ở xứ này như những người Nhật sống trước thời Minh Trị. Nghèo, u buồn.
Phía trước là một ngôi làng lớn.
Katsu cùng đám binh lính bước vào một chiếc cổng làm bằng thân tre. Tiếng chó sủa vang, ba con chó bản địa, to hơn loại chó Nhật xù lông, hung hăng, sủa rất to. Chân sau của lũ chó dạng ra thế thủ, mõm vươn về phía trước, răng nhe ra đe dọa. Vô ích. Một lưỡi kiếm tuốt trần, một tiếng tru thảm thiết, tiếng sủa vẫn tiếp tục nhưng lùi ra xa và yếu dần. Bặt hẳn.
Một người đàn ông trung niên, râu để dài, quần áo luộm thuộm chạy ra đón đoàn binh lính gươm súng lạnh lùng đến thăm nhà. Ông ta mặc chiếc quần rộng thùng thình, đũng dài gần tới đầu gối, nhưng ống quần ngắn, chưa chạm mắt cá chân. Phía sau là hai người phụ nữ đang đứng nép vào hàng cột gỗ. Một thằng bé khom lưng đứng cạnh cửa chính. Tiếng kim loại của đoàn binh va vào nhau khô khốc. Thằng bé run bần bật.
- Chúng ta đến đây để nhận sự quyên góp lương thực cho quân đội của thiên hoàng.
- Bẩm, không dám trái ý.
- Lấy ngay bây giờ.
- Bẩm, đã chuẩn bị sẵn.
Hai người đàn bà khi nãy nép theo hai hàng cột đi vội về phía sau nhà, rồi ra cùng lúc. Một trung niên, một trẻ. Hai người đàn bà mang ra một thứ nước màu vàng thẫm mời những vị khách đường đột đến nhà. Người đàn ông rót một bát nước đầy, uống trước. Không phải thuốc độc. Một thứ nước hơi chát, ấm nóng, không giống loại trà màu xanh, được làm bằng bột lá chè nghiền mịn, đặc sệt, chỉ uống từng ngụm nhỏ của người Nhật.
Hai người đàn bà là vợ người phú hộ.
Thằng bé đứng bên cửa là người ở, không phải con ông ta.
Không có biểu hiện chống đối.
Đám binh lính người Việt chuẩn bị mang những bao thóc ra ngoài.
Những con chó lùi vào các bụi tre, mắt trân trân nhìn từ xa.
Tiếng kim khí va vào nhau.
Hai người đàn bà bước giật lùi ra sau. Tất cả đám binh lính Nhật đều nhìn xéo qua họ. Người đàn bà trẻ mắt một mí, gầy, ngực nhỏ, da trắng. Cô ta hao hao một cô gái Nhật sống ỏ một đô thị trung bình. Mắt Katsu dừng ở trên ngực. Một quầng nhỏ nhô cao trên áo sẫm màu.
Người đàn bà trung niên đi qua. Không ai nhớ mặt bà ta thế nào.
Katsu phiên dịch mệnh lệnh của trung uý Hideki. Yêu cầu chủ hộ tiếp tục quyên góp lương thực cho quân đội của thiên hoàng. Mọi sự chống đối đều vô ích.
Trước khi ra về, trung uý Hideki yêu cầu tất cả các thành viên trong nhà ra trình diện.
Tất cả tám người đứng thẳng hàng trước sân, mắt không nhìn lên .
Người phú hộ giọng như bị thiến, giới thiệu tên hai bà vợ. Năm người khác trong nhà ông ta bao gồm một thằng hầu, một chị bếp, một bà già và hai người làm công.
Tên người đàn bà trẻ nghe không rõ. Một âm gì đó giống như: Nhiên.
Người đàn bà trẻ không cười.
Mắt ướt.
Katsu dừng ở đôi mắt ướt. Đôi mắt không giống đôi mắt của người đàn bà thôn quê.
- Tất cả không ai được chống đối. Mọi sự chống đối đều vô ích - Trung uý Hideki nhắc lại.
Âm thanh ngoại quốc phát ra từ miệng trung uý Hideki. Katsu dịch lại. Tám người vẫn đứng thẳng hàng, đầu hơi cúi thấp.
Giống kiểu phục tùng ở nước Nhật.
Nhưng đây không phải là nước Nhật.
Người Nhật - binh lính Nhật và gươm súng đã dạy người nước khác phục tùng theo kiểu Nhật. Còn dạy được gì nữa, Katsu nhếch mép, người đàn bà trẻ đáp một tia nhìn kín đáo về phía anh ta.
Cô ta phản kháng.
Nhiệm vụ của binh lính Nhật là kiểm soát các hoạt động trong vùng, kiểm soát đường quốc lộ, thu gom lương thực và giữ một mối quan hệ vừa phải với binh lính Pháp. Hai con hổ đang chờ thời. Không biết con nào sẽ nuốt chửng con nào. Tất nhiên là mình không nghi ngờ sức mạnh của quân đội thiên hoàng.
Binh lính người Việt làm việc dưới sự sai khiến của các sĩ quan người Nhật. Phục tùng.
Katsu cười thầm: không ai hiểu người Việt bằng chính họ. Chiến tranh làm những điều nực cười. Quân đội Nhật đang nắm thực quyền, họ kiểm soát toàn bộ tình hình. Mấy tên mũi lõ chẳng còn bao ngày nữa. Đám binh lính người Việt cũng đang đóng một màn kịch bất đắc dĩ. Màn kịch chưa biết khi nào mới hạ màn. Nhưng người Nhật vẫn sẽ là người chỉ huy duy nhất
Khi đó muốn điều gì chẳng được.
Cả người đàn bà mắt ướt, thị dân.
Cô ta giễu cợt mình. Không ai nhận ra điều này, kể cả trung uý Hideki.

Mùa đông vùng Đông Bắc Việt Nam không quá rét, không có tuyết rơi như trên đảo Hokkaido miền bắc Nhật Bản nhưng khung trời màu xám, sương mờ đục. Không có những rừng cây lá đỏ đầu mùa đông. Nông thôn tĩch mịch, u buồn. Những thân cây vươn lên trời xám. Oai phong của đoàn quân đang chiếm thế thượng phong cũng chẳng làm nguôi nỗi nhớ những cảnh quê mùa đang mất dần đi ở Kyushu.
Đông Hoàng.
Những người đàn ông, đàn bà gày gò, môi thâm tái.
Bọn trẻ con mặc áo bông xám cũ, mũi đỏ như mèo.
Ngoài chợ Cột bán những mẹt thịt trâu chết rét. Thịt thâm sì.
Lũ quạ đen không được chào đón như ở Nhật.
Những ngôi nhà đắp bằng đất trộn rơm thấp lè tè. Ngôi nhà có ít cửa sổ, ô cửa sổ nhỏ, bên ngoài che bằng một tấm liếp đan bằng lá mía khô, một cành cây có chạc chống lên. Mái nhà bằng rạ, những thảm rạ dầy, ngấm nước mưa đen sẫm, sắp mục nát. Những ngôi nhà không giống những ngôi nhà ở Kyushu, nước Nhật đang thoát khỏi sự nghèo đói nguyên thủy.
Katsu nhớ người ông làm ruộng trên đảo Kyushu. Ông cũng chẳng khác những ông già ở đây. Gầy gò, môi tím tái, giọng nói lập cập, không rõ âm. Đế quốc Nhật đang trở nên hùng cường ở châu Á nhưng cũng không có nhiều ảnh hưởng đến một ông già sống ở một nơi tận cùng của nước Nhật cũ kĩ. Một ông già nông dân thực sự. Cứng đầu.
Đông Hoàng và toàn thể lãnh thổ Việt Nam sẽ nằm dưới sự quản lí của người Nhật. Không trừ một góc nhỏ nào.
Katsu cùng đoàn binh Nhật và binh lính người Việt thực hiện nhiệm vụ của thượng cấp: thu thóc tạ, nhổ lúa trồng đay và thầu dầu, những thứ cần thiết cho đội quân của Nhật hoàng.
Những điều đó cũng không che giấu được sự thật phơi bày.
Ở châu Âu, nước Đức quốc xã sắp bước vào những ngày cuối cùng, chẳng mấy chốc quân Đồng minh sẽ tiến vào Berlin, thủ đô của đế chế thứ ba.
Người Nhật, đội quân của thiên hoàng đang đứng trước nguy cơ mất hết đồng minh và bị tấn công tứ phía.
Không biết có ngày mình có thể quay về nước Nhật hay không?
Hay sẽ chết ở đây vì danh dự của thiên hoàng.
Một vùng nông thôn yên bình, u buồn sẽ là nơi ngã xuống của người con của nước Nhật.
Không thể...
Người Nhật đã làm những việc có thể làm bằng mọi giá. Lương thực được trưng thu nhiều hơn. Máu đã chảy. Chiến tranh. Không có cách nào khác. Katsu cố gắng không rút kiếm ra khỏi bao. Thanh kiếm Nhật dùng để chém quân thù. Quân thù? Người Pháp, người Mỹ, người Việt hay chính người Nhật. Sẽ có ngày thanh kiếm phải dùng đến.
Người lính thiên hoàng phải thực hiện bổn phận của mình.
Nghĩa vụ với tổ quốc.
Nước Nhật đang là đàn anh châu Á.
Không có gì phải do dự...?
Người đàn bà mắt ướt bán cho binh lính ngay dưới chân đồn Cao. Người đàn bà tính tiền bằng ngón tay. Những ngón tay thon nhỏ mềm mại. Bàn tay không phải bàn tay của người đàn bà nông thôn.
Nhiên mắt ướt nhưng lạnh.
Một nỗi buồn vô hình.
Lẳng lơ.
Thị dân.
Cô ta phản kháng?
Binh lính người Việt xô ra. Lời tục tĩu. Ánh nhìn dâm đãng. Tay vuốt má. Người đàn bà gạt tay không quá mạnh.
Mắt Katsu dừng ở chân.
Chân trần.
Vợ một phú hộ. Không cần phải thế?
Một con ranh gián điệp?
Một sĩ quan Nhật bước đến giật mạnh tấm cói che miệng thúng.
Không có lựu đạn.
Một ít rơm khô.
Nửa tờ lá chuối xanh lót ở dưới đáy thúng
Một tia nhìn, nửa lẳng lơ, nửa bất cần đáp về phía người lính Nhật duy nhất hiểu được tiếng Việt.
Sẽ cho cô ta lên giường.
Loại đàn bà dâm đãng.
Ánh mắt như thiêu đốt.
Ngươi không đánh lừa được ta đâu.
Cô ta giống một người đàn bà mình đã gặp ở vùng nông thôn trên đảo Kyushu.
Buồn.
Đẹp.
Bất cần.
Người sĩ quan phiên dịch trong đội quân của thiên hoàng chặn một bàn tay đưa lên ngực người đàn bà.
- Cô ta là vợ tay phú hộ. Chúng ta còn cần đến ông ta.
- Con ranh gián điệp.
- Một nhát kiếm là xong. Không phải vội.
Sương mờ trên những cánh đồng không.
Hoa ngô tím phơi trên bờ ruộng.
Mạ héo vàng.
Đay, thầu dầu.
Đay, thầu dầu. Nếu ai đó làm thế với nước Nhật?
Phản bội, dù bằng suy nghĩ cũng đáng bị xử tử.
Chờ đợi.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945 quân Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Một tiểu đoàn lính bảo an của quân đội Nhật chiếm huyện lị Đông Hoàng, kiểm soát mọi tình hình. Quân Pháp rệu rã, đầu hàng chóng vánh.
Người Nhật đã trở thành người chỉ huy duy nhất.
Đồng nghĩa với những đàn quạ rỉa xác người chết đói trên cánh đồng.
Mình không muốn nhìn thấy những cảnh này.
Nước Nhật trong nội chiến.
Nước Nhật trong đói nghèo.
Cũng đã từng thế này.
Mình không phải là một ronin, hiệp sĩ vô chủ, tìm kiếm những cuộc phiên lưu nghĩa hiệp. Người chủ tối cao là tổ quốc nhưng cầm kiếm giết người không phải việc có thể quen tay.
Suy nghĩ yếu mềm cũng là phản bội.
Không thể...
Những người đàn bà mặc áo thâm sì trên những cánh đồng. Đầu quấn khăn cũng thâm sì.
Chỉ nhìn thấy một nửa mặt.
Những người đàn ông gầy gò vác trên vai một loại nông cụ. Mắt mờ đục như hồn ma đói khát.
Đường làng rụng lá tre, nhìn kĩ mới thấy một bãi phân súc vật.
Người lính phiên dịch trong quân đội thiên hoàng có bổn phận hoàn thành trách nhiệm của mình cùng đoàn binh Nhật. Những kho thóc ngày càng đầy hơn. Đám binh lính, tay sai người Việt vẫn răm rắp phục tùng. Đám tàn quân Trung Hoa ẩn nấp trong rừng thỉnh thoảng xông ra cướp phá đang dần bị tiêu diệt. Dân bản xứ chưa có biểu hiện chống đối rõ rệt.
Quân Nhật như đang sống trong vùng mắt bão, gió lặng một lát rồi sau đó, gió sẽ quật nát tất cả. Sống cùng với bão, người Nhật đã hiểu được điều này. Không ai nói ra nhưng tất cả đang chờ một ngày phán quyết khủng khiếp. Hàng quân vẫn thẳng hàng, oai phong. Kiếm sáng loáng. Tiếng thở dài và ánh mắt lo âu dồn nén lại. Những tin tức bất lợi dội đến từ chiến trường châu Âu và Trung Hoa, từ nước Nhật. Từ Thái Bình Dương.
Người Nhật thất bại trong trận chiến Midway trên Thái Bình Dương tháng 6 năm 1942.
Cục diện chiến tranh thay đổi.
Quân Mỹ đã đổ bộ lên Iwojima. Nước Nhật mất 39.000 binh sỹ trong trận chiến ở Okinawa.
Người đàn bà mắt ướt vẫn bán cho binh lính. Một con gián điệp kiên nhẫn? Quá lộ liễu? Nhưng cái vẻ của cô ta cũng bất cần. Một nỗi buồn u tối. Sự dồn nén đến bất mãn.
Thị dân.
Đẹp, u sầu.
Đôi mắt.
Binh lính mua hai thứ , một là cồn của Pháp. Hai là loại nấu lén lút của dân bản xứ, trắng đục, làm bằng gạo giống như Sake nhưng mùi vị khác hơn một chút. uống đến say, không có độc. độc có lẽ sẽ bán vào lần cuối cùng. Xung quanh đội quân nước ngoài đang bao phủ một sự đe dọa vô hình. Sẽ có ngày cô ta sẽ cứa gươm vào cổ mình. Lá thư gửi từ Kyushu, những người thân đang mong mình về nhưng không ai khuyên đào ngũ. Không bao giờ.
Người đàn bà mắt ướt sẽ cản nước đi cuối cùng. Đôi mắt cô ta, cô ta sẽ giết mình.
Phải ngủ với con gián điệp, phải giết chết nó trước khi nó làm nổ tung đồn.
Katsu rút gươm ra khỏi vỏ. Người phiên dịch cũng là một chiến binh. Phải làm trước khi quá muộn. Một cú đá làm bay cái thúng con. Bầu vỡ tan, mùi bốc lên sực nức. Những sợi rơm khô đã vò nhàu, vàng nhạt; nửa tàu lá chuối non lót ở đáy thúng xoay ngang. Lật đáy thúng xuống. Không có gì cả. Ánh mắt người đàn bà lạnh, u buồn.
Katsu dừng ở mắt.
Bất cần.
Ngươi hãy giết ta đi.
Viên sỹ quan phiên dịch túm lấy cổ áo người đàn bà. Hai đôi mắt Á đông nhìn nhau trừng trừng. Hai thái cực. Dọa dẫm như lửa đốt. Coi thường đến bất cần.
Ta sẽ giết ngươi khi cần. Đồ lẳng lơ.
Ngày 8 tháng 6 năm 1945. Đông Hoàng. Sáng sớm. Một tiếng huýt còi đanh gọn. Những người đàn ông gầy gò, má hóp lại, tay cầm súng trường, giáo mác xông vào đồn huyện lị.
Những đôi mắt đã không còn lờ đờ. Căm giận. Thật khủng khiếp. Cuộc hoán đổi quá nhanh chóng.
Những thân hình gầy gò khô khốc lao lên phía trước. Những tay súng, tay dao sẵn sàng bổ xuống. Khiếp sợ, có nội gián. Một tên lính Việt chạy ra mở cửa sắt cho quân du kích ùa vào. Một viên đạn xuyên qua gáy.
Phản kháng chậm chạp. Đám binh lính Việt co rúm lại hoặc hô gọi người thân không bắn súng. Viên sĩ quan Nhật đã đưa súng lên thái dương bóp cò.
Katsu rút kiếm ra khỏi bao. Sáng loáng. Đã đến lúc phải dùng kiếm cho mình. Mình đã được học thuật seppuku, mổ bụng tự sát.
Bóng một người đàn bà chặn ngay trước cửa. Đôi mắt u buồn giận dữ. Người đàn bà mắt ướt, chân trần. Katsu dừng một giây, mắt dừng ở tay: khẩu súng chĩa thẳng vào ngực.
- Hạ kiếm xuống, không được tự sát. Ngươi biết tiếng Việt!
Katsu vung kiếm lên. Tiếng đạn rít lên, viên đạn xuyên qua bàn tay phải.
Người phiên dịch chồm lên. Tay trái vồ lấy kiếm. Viên đạn thứ hai xuyên qua bàn tay trái.
- Ngươi không được chết...

***

Người ông của Emi Morita mang hai vết thương trên hai bàn tay. Ông quay về đảo Kyushu và chết sau đó nhiều năm. Bố mẹ Emi chuyển đến sống ở Tokyo. Khi đi họ mang theo cả một bức hình vẽ một người đàn bà châu Á, chân trần, đang gánh trên vai hai đôi thúng nhỏ. Đôi mắt ướt, u sầu.
Khi tàu Nippon Maru cập cảng Sài Gòn. Tôi đã đưa Emi Morita đến thăm Bảo tàng chứng tích chiến tranh. Chúng tôi ngồi uống cà phê ở một quán vỉa hè. Emi bảo tôi:
- Chiến tranh giống như một bức tranh u buồn. Ông nội tôi đã cấm tôi đến những chỗ đó. Nhà anh ở đâu?
- Nhà tôi ở miền bắc Việt Nam, một vùng nông thôn yên bình. Nhưng ở thời buổi này, không tìm đâu ra một người đàn bà chân trần. Mắt ướt, u sầu.
Đoàn tàu chúng tôi kết thúc cuộc hành trình vào cuối tháng mười hai năm đó tại thủ đô nước Nhật. Khi đó, Tokyo lạnh như miền bắc Việt Nam vào những ngày rét buốt nhất.


ĐÊM CUỐI CÙNG Ở NGỌA VÂN


Những ghi chú về am Ngọa Vân:

1. Am Ngoạ Vân nằm trên núi Vây Rồng thuộc cánh cung Đông Triều, địa phận xã Bình Khê, huyện Đông Triều. Theo các ghi chép phật giáo thì Ngọa Vân là nơi vua Trần Nhân Tông, tổ sư thứ nhất của dòng thiền Trúc Lâm viên tịch. Nằm ở độ cao hơn 500 mét so với mực nước biển, Ngoạ Vân bao phủ bởi thảm thực vật phong phú, nhiều nhất là các loại trúc rừng, trên núi có mây trắng che phủ quanh năm...
2. Những kiến trúc hiện thời ở khu vực Ngọa Vân chỉ còn là phế tích: một am thờ sơn thần dựng lại trên nền cũ có tên Thiên Sơn từ; một tịnh am ghi Ngọa Vân am; tháp đá có đặt bài vị vua Trần; một bia lớn khắc hai mặt đã bị kẻ gian đập vỡ vì nghi có vàng bên trong... Một kiến trúc vòm bị mất phần mái, một số hàng đá xây bó vỉa, ngói mũi hài, ngói mũi lá, gạch vồ, đá kê chân cột, voi đá, ngựa đá...
3. Không xa địa điểm Ngọa Vân là chùa Quỳnh Lâm, nơi có pho tượng Di Lặc bằng đồng, đứng đầu trong An Nam tứ đại khí xưa kia của Đại Việt; đền An Sinh thờ bát vị hoàng đế; quần thể lăng mộ các vua Trần, trong đó có một lăng mộ đang nằm giữa hồ nước thuỷ lợi...
4. Đường đến Ngọa Vân còn chưa có đường chính, phải đi qua rừng trúc và các địa điểm có tên như đập Trại Lốc, suối phủ Am Trà, Tàn Lọng, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, có chỗ phải lội qua suối rừng...
Vào dịp bảy trăm năm ngày mất của Người, Uông cùng một đoàn văn nghệ sĩ trong vùng đắc ý hành hương lên thăm Ngọa Vân. Uông đã ngồi thiền dưới chân tháp tổ, ăn rau rừng, uống nước suối, bẻ trúc làm gậy, một đêm miên man không ngủ được...

***

“Cờ thiên địa phất thì tiến, cờ tứ định thì đi thong thả, cờ ngũ hành thì đi nhanh, cờ lục hợp thì thổi cơm...”Chiến trận.
Đêm mịt mùng trên đỉnh Ngọa Vân.
Đã bốn ngày mưa gió gầm gào rên xiết. Đức Phật hoàng trở dậy, gió quất vào mạng sườn thảo am từng đợt. Cột cái, cột quân, rui mè, lốc ngói vặn mình co rút, chống đỡ. Gió mạnh nhưng chưa quật nát, nghiến xéo tất được. Vách gỗ vặn kêu răng rắc, gió muốn nhổ bật thảo am, cuốn thốc lên trời nhưng bốn thân cột cái làm bằng gỗ lim, chôn sâu dưới đất, mút chặt thin thít không chịu nhúc nhích. Thảo am lừng lững chống lại từng đợt gió xoáy...
Người hướng mặt về Đông.
Giọt sáng leo lét của đèn hạnh muốn tắt hút vì gió mạnh. Trời đặc như hũ nút, gió gào sầu oán, khóc lóc. Tiếng vượn kêu nghe thảm quá, như người hát khúc ai não đưa cố nhân về đất cũ. Thiên địa đang chơi khúc nhạc bi hùng đưa những chiến binh tử trận về cố quốc. Ta muốn ra ngoài trông thấy những cảnh trí dữ dội này.
Thị giả Pháp Không dựa vào góc thảo am, thưa rằng:
- Mấy hôm liền trời đất tối om vần vũ. Không biết định liệu thế nào. Xin Tôn đức đừng ra ngoài kẻo gió máy không ngờ được hết. Ngày này, trời thường gió buốt, đêm nay bỗng gió lốc, mưa táp. Trời đất thất thường khó đoán trước.
Nhân Tông nhìn lặng vào khoảng không chốc lát.
- Ngươi có nghe thấy tiếng gió hú không? Ta nhiều năm ở chốn yên thâm chưa từng nghe thấy tiếng gió như thế. Cây đào núi gầy gò, đứng co ro, sần sùi mấu trơ trọi, gió đã tuốt hết lá rồi phải không? Tiếng hú như tiếng giặc Thát bị đâm ộc máu trên dòng Bạch Đằng. Tiếng kêu dữ lắm, thảm thiết. Tiếng người kêu than trước khi chết không khi nào dễ chịu cả.
Tôn đức dướn người, bàn tay tì trên sàn gỗ, huyết mạch chạy giật giật nơi thái dương, những ngón tay khô dài, xoè rộng, tì miết trên mặt gỗ. Ánh lửa bập bùng...
Pháp Không định đỡ thượng hoàng, ngài gạt ra.
- Nói cảnh trí bên ngoài đi, ngươi có nhìn thấy những đám mây không? Từ ban chiều mây đã cuộn một mối ngờ ghê rợn, chúng muốn lút xuống cả mặt đất, trùm lên rừng già, cây cỏ, bò vào trong các ngóc ngách, trườn nhoài, luồn lách khắp thảo am. Mây đen vẽ ra những đầu rồng, đầu hổ, binh tướng nhà trời. Tất cả như muốn chúi đầu xuống thảo am. Ta thấy mây mờ lắm, chiến trận năm xưa...
Sông Tam Trĩ.
Quân ta rút lui về xứ Thanh. Thuỷ chiến. Giặc Thát hai mặt nam bắc giáp công vũ bão, khóa chặt, hòng bắt sống vua Trần. Bao nhiêu tướng sĩ đã vì ta và thượng hoàng mà tổn mạng. Lòng người chút nao núng, biết có thoát hiểm trong gang tấc? Tiên tổ có độ trì? Ta cũng có lúc mềm lòng, lưỡng lự nên hòa hay đánh? Để cho giặc trói, giữ cho xã tắc khỏi bị giầy xéo? Giặc đã đuổi rút phía sau, sát khí ngùn ngụt. Quyết chiến. Người cầm lái vẫn bình tĩnh quạt những mái chèo chắc nịch, phăm tới. Thuyền lút vào chỗ lau sậy kín đáo, chỉ cần lỏng tay một chút thuyền sẽ không thể nào lọt vào được chỗ quặt gấp ấy hoặc mũi thuyền loay hoay chổng ra, làm mồi cho quân thù. Những khi giáp ranh sống chết, mới biết mạng người thế nào là đáng quý.
Trận Bạch Đằng.
Đằng đông nổi lên những quầng đỏ dữ dội chói sáng. Màu đỏ bi hùng, màu đỏ thảm khốc. Nước sông cuộn dâng, cuốn lốc, hút nước xoáy kéo rút, kêu ồng ộc như tiếng trâu rừng bị chọc tiết. Ta cùng thượng hoàng ra gươm đốc chiến, dồn binh giặc về sông Bạch Đằng cho đại quân ta tiêu diệt. Nguyễn Khoái nhận nhiệm vụ đánh tiên phong dụ địch. Đại quân của Hưng Đạo vương đang xuôi dòng Hóa Giang quặt vào Bạch Đằng chặn đường tiến ra biển.
Tiếng kêu của giặc Thát bị đâm ộc máu. Máu tanh sủi bọt, đàn cá dữ không dám bơi lên nuốt máu. Huyết người không phải là thứ dễ uống được.
Trống trận từng hồi riết róng, quân sĩ hô vang như sấm. Tên bay như muỗi rừng hung dữ. Kiếm sắc vung như múa, giáo nhọn tua tủa, sấm sét nổi rền.
Sát! Sát!
Tinh kì gió giật như quất. Quân chạy hàng ngang, quân chạy hàng dọc, quân quay tròn, quân xé nhỏ, quân từ dưới đất chui lên, quân từ trên trời rơi xuống, tiếng thét xé họng. Lũ giặc hoang mang không biết quân binh đổ ra từ đâu.
Hỗn chiến.
Máu giặc Thát, máu quân Trần tưới đẫm cờ chiến.
Thuyền lớn xô vào nhau đắm gẫy, mũi gỗ lim nhọn hoắt bọc sắt giàn trận giăng bẫy quân thù. Quân giặc Thát cao lớn, mặt bạnh hổ mang, lông mày xếch ngược, dữ tợn, la ối, giãy dụa.
Chém giết vung tay không tiếc. Quân hai bên bờ giáp công, trồi lên, trụt xuống. Tên bắn như mưa. Giặc liều chết mở đường máu, giáo nhọn quây chặt, đánh bật xuống. Bè lửa thả xuống đốt cháy những chiến thuyền đang vùng vẫy.
Lệnh ban xuống: những kẻ đầu hàng được tha mạng để giữ hòa khí sau này.
Từng đống giặc trói trật cánh khỉ, trùng trục hàng ngàn tên.
Thăng Long đã mấy lần thất thủ, quân thần phải rời bỏ kinh thành, tông miếu tổ tiên bị đào bới. Uất ức, dồn nén, căm thù tột độ. Trận chiến cuối cùng như bát nước tràn, binh sĩ bị mất hết gia quyến xông lên chém giết khôn cùng, một người địch chục người, chục người địch trăm người, trăm người địch vạn người, nỗi đau không kìm được nữa. Bắt sống được tướng giặc ta sẽ đem về Chiêu Lăng làm lễ hiến tiệp.
Thắng trận vang lừng. Bọn giặc cướp kinh hãi không dám đưa quân sang lần nữa.
Nhưng bao chiến binh tử trận? Máu quân thù, quân ta chảy thành sông. Qua vùng chiến địa vẫn ngửi thấy mùi xác người chết thối. Chiến công nào chẳng có bùn và máu.
Trận chiến nào chẳng vấy máu binh sĩ, quân giặc cùng đường đâm chém man rợ. Chiến binh không đầu vẫn vung kiếm trước khi ngã gục. Dòng máu nóng phun lên từ cổ họng sùng sục như nước sôi mùa lũ. Tiếng người khóc thét, sợ hãi, giận dữ, rên xiết, đau đớn, uất ức, câm lặng.
Như tiếng gió thét mấy ngày qua.
Sa trường đẫm máu, nỗi đau tràn mãi không sao xóa khỏi.
Tiếng vượn hú nghe như tiếng quân thù lúc hấp hối. Bao chiến binh vì xã tắc mà tử trận? Sợ rằng nhiều quá mà không chăm lo cho hết? Có người còn trách móc vì quên lãng? Ta đã ở gần họ lắm rồi. Những chiến binh kiêu dũng của Đại Việt. Những cánh tay vẫy gọi, nhưng cánh tay nhỏ quá, tiếng kêu cứ yếu dần, ta có đến kịp chăng?
Tiếng nước suối sôi sùng sục, hay tiếng ngựa chiến giậm chân giận dữ dưới dòng thác chảy tràn dưới chân Ngọa Vân mùa lũ.
Gió thổi đau đớn, quay cuồng như đêm nay.
Đêm nay là đêm cuối cùng?
Ta muốn nhìn xem quang cảnh bên ngoài. Tối quá, chẳng thấy gì cả.
Đêm nay, giông bão ngập tràn, mưa trời trút cả lòng mình xuống đất.

***
Thao thức...
Gió.
Gió từ phương nam thổi đến. Quay quật, xoay vòng, van vỉ, dằn vặt, xé nát từng thảm rừng trúc.
Phương nam.
Ta đã thân hành đến đó, khất thực cả tháng trời trong thành Chà Bàn của nước Chiêm Thành. Người Chiêm Thành khác chăng dân Đại Việt, trải qua binh đao chống giặc Thát, đau đớn, vui mừng. Dân cày đâu cũng giống nhau. Ta đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân cũng vì cảm động ân cần tiếp đón, cũng là muốn xây mối bang giao bền chặt với láng giềng. Lời của bậc quân vương nặng như núi, không làm không được, ta có lầm chăng?
Công chúa phải ưng lòng vâng sứ mệnh của vương huynh và phụ hoàng. Huyền Trân là công chúa duy nhất của ta, triều thần trách móc. Có người còn ví việc ta gả Huyền Trân cho Chế Mân khác chi việc nàng Chiêu Quân đi cống Hồ. Có ai hiểu được nỗi lòng của ta, lòng người cha trăn trở, lo âu vì mệnh nước, vì gia quyến. Phong tục mỗi phương mỗi khác, công chúa có yên lòng làm dâu nước người, trí não hướng về đất Bắc. Ngẫm cho cùng, phận nữ nhi hi sinh vì xã tắc đã từng. Công chúa An Tư phải gả cho Thoát Hoan để hòa hoãn với giặc, nhẫn nhịn biết mấy? Nữ vương Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Thái tổ, đức hi sinh, thiệt thòi còn gì lớn hơn nữa? Các cung nữ đã vì ta mà trẫm mình dưới suối Yên Tử, còn gì cảm động hơn? Con gái ta không một lời oán thán, chữ hiếu nào sánh bằng? Nữ nhi cũng có khi là bực anh hùng.
Người nhíu hàng chân mày bạc trắng, bàn tay buông trên mặt sàn, tì mạnh xuống mặt gỗ, cánh tay gồng lên, khí huyến dồn lên trí não. Những nếp nhăn co vào, giãn ra như sóng táp. Vũ trụ đang bị hút trụt vào thảo am, giữa núi rừng đen đặc. Pháp Không khiếp sợ nhìn thượng hoàng. Những cơn sóng đang trải qua trong lòng ngài. Sóng chạy giật từ đỉnh thái dương, lan sang huyệt ấn đường, lõm sâu ở chân mày, toả xuống lưỡng quyền, tụ dưới nhân trung, nuốt mạnh trong yết hầu, nín thở một khắc, rung chuyển toàn thân, rồi lại tuần hoàn ngược lại. Giông bão đang nổ ra trong khoảnh khắc nhỏ của đời người. Trên mặt đức Phật, bể khổ, hoan lạc đang cuộn lại, quấn quýt, quay vòng, tì nén, đan xiết vào nhau, bung ra dữ dội. Chưa bao giờ người đệ tử trung thành thấy những chuyển vận ghê gớm trong lòng pháp chủ. Ngài vận khí huyết, hai tay rung lên, dòng máu đỏ chảy vần vũ trong đó.
Trời cồn cào, vặn vã. Không phải cuồng phong nhưng đau nhức xé ruột. Công chúa Huyền Trân theo chồng về Chiêm Thành, của hồi môn là châu Ô, châu Rí. Vùng đất yết hầu phương Nam đã thuộc về Đại Việt. Bờ cõi được mở rộng nhưng công chúa sống một đời xa lạ, sự hi sinh có đáng không?
Huyền Trân là con gái duy nhất của ta, đem gả cho Chế Mân cũng vì gây dựng ích lợi cho Đại Việt. Ý ta có chống được thiên định? Vua nước Chiêm Thành mất, theo phong tục Huyền Trân phải lên giàn thiêu cùng chồng? Lòng ta như lửa đốt. Ngày con gái ta bị thiêu cháy cũng là lúc thể xác ta tan rã từng mảnh. Người cha nào nỡ nhìn con gái mình lên giàn thiêu như thế. Khi An Tư phải gả cho Thoát Hoan làm kế hoãn binh, bao người thương xót, khóc than, lòng đau như cắt. Nhưng có cách nào để cứu quân dân Đại Việt trì hoãn thêm được vài ngày khỏi bị truy đuổi, thảm diệt? Có cơ hồi hoàn lực lượng? Người đời trách ta không thấy tấm gương tày liếp, có bao người hiểu được lòng ta?
Huyền Trân trở về.
Mừng vui nhưng lòng ta quặn thắt, tóc trên đầu đã bạc thêm mấy phần. Chuyện giữa Khắc Chung và Huyền Trân ta không tra xét, công chúa đã yên bình trở về, thế là thỏa lòng rồi. Cha con gặp nhau buồn vui khôn xiết, ta còn mong gì hơn nữa?
Gió thốc.
Gió bớt dồn dập quay quắt nhưng thổi cuồng, quất vào chỗ sâu xa nhất của lòng người. Cây rừng phần nhiều đã buông tuồng sau những đợt gió dữ, run rẩy chờ hơi ấm quay về; chỉ những loài cây vững chãi nhất, cứng cáp nhất còn kiêu hãnh, can trường đứng thẳng dậy, vươn thẳng lên trời, cho dù cuồng phong đã tuốt tướp lá, thân cây rớm máu, cơ thể chi chít những vệt nhựa tứa dãi khô thẫm lại, lớp vỏ già căng rộp mình, vặn cong, rơi xuống mặt đất, nước vội cuốn đi.
Chị gái ta ốm nặng, đòi gặp lần cuối. Phút sắp lâm chung nào chẳng cảm động. Thiên Thụy đã vì Trần Khánh Dư mà tổn danh. Ai hiểu được lòng nữ nhi cũng thường tình? Ta đã dặn dò. “Chị nếu thời tới thì tự đi, gặp cõi âm có hỏi việc gì thì cứ trả lời: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ đến”.
Gió nhạt dần.
Đức Nhân Tông lỏng người, thả tay xuống chỏm gối. Ngài nhìn về hướng Bắc, trùng đồng sáng rõ, ánh lửa giữa đêm như thiêu đốt.
Những cảnh dữ dội ngoài kia, đám vượn khỉ kêu khóc vì sợ gió bão, ai hiểu được lòng ta? Những người thân thích của ta, môn nhân Trúc Lâm, ta đi rồi họ có thương xót thực lòng. Ta đâu dám nghi ngờ...

***
Bồn chồn.
Tiếng gà gáy sớm...
Pháp Không khơi thêm bấc đèn, phòng lửa tàn. Điều Ngự nét mặt bình yên, phẳng lặng sau cơn giông bão dữ dội. Ánh mắt ngài đang thấu vào cõi xa xôi, xuyên qua màn đêm, nhập vào cõi hư vô tận cùng, ánh lửa từ nghìn xa trập trùng tràn về. Cảnh tượng lạ kì. Luồng khí sáng từ trong thảo am Ngọa Vân bỗng cựa quậy, thoát ra khỏi tường vách chật hẹp, tỏa ra bốn phương trời, mười phương đất, rực sáng như muốn thiêu đốt lần cuối. Ánh sáng ngụt mạnh, bốc như hỏa lò, căng đượm, nóng rực, rát bỏng mặt người. Một sức nặng ngàn cân từ thảo am Ngọa Vân đang rời khỏi mặt đất, chầm chậm, yên bình, hướng thẳng lên trời.
Pháp Không xiết mạnh hai bàn tay vào nhau, hỏi khẽ.
- Bảo Sái đang đi xem những chỗ để kinh sách dưới Thông Đàn, đề phòng mưa gió làm ướt hỏng, một chốc sẽ quay lại. Tôn đức có nỗi lòng, có muốn sai bảo điều gì chăng?
Tiếng Người đáp lại nghe như gió thoảng.
- Bữa trước hai vị tì kheo Tử Danh và Hoàn Trung dìu ta lên đây, họ muốn ở lại nhưng ta không giữ. Ta bảo họ việc sinh tử không thể xem thường, cũng không cần ồn ã. Ta đang chờ thôi.
Điều Ngự nghiêng mình. Trời đất chuyển vận, những đợt gió day dứt, quất siết bắt đầu giạt dụa, dềnh dang, im lịm rồi tắt hẳn. Trời quang đãng, sáng rực lên. Giữa đêm, không khí thoáng rộng lạ thường.
Pháp chủ mở rộng đôi bàn tay cho khí mát tràn vào. Ta chắc không phải đợi lâu, cũng chẳng vội gì. Ngày của ta đã định, càn khôn đang chuyển mình. Rừng Ngọa Vân yên lặng như ngày ta mới lên đây, thảm trúc vẫn tươi tốt rì rào. Tiếng nước chảy dưới khe, nghe rõ và trong quá, tiếng của đất trời, của rừng xanh, của muông thú quây quần, tiếng của lòng ta. Một vệt sáng, chói rực trên trời…
Bảo Sái quay lại thấy Pháp Không đang túc phục bên thượng hoàng. Nhìn nhau, bồn chồn.
- Trời yên gió phải không?
- Dạ, trời lặng, sáng bừng lên.
- Giờ này là giờ gì?
- Thưa, giờ Hợi.
- Chưa đến giờ của ta.
Phía trời Bắc một vì tinh tú sáng rực trụt xuống. Tiếng vượn kêu khóc ngừng bặt, lá cây thôi trút. Vũ trụ yên lặng, sức nặng đang tút sâu xuống đỉnh Ngọa Vân như dòng thác ánh sáng. Đức Nhân Tông gật đầu, vẻ mặt thanh thản.
Chùa kế bên, môn nhân bỗng vung búa đánh một tiếng chuông ngàn. Âm thanh rền, trầm, tỏa xung bốn bề. Tiếng chuông đập vào vách thảo am, phả ra khoảng lặng mênh mang, đổ tràn xuống thung lũng, tràn ngập khắp cây cối, muông thú, hoa lá, chạy rung trên mặt đất, lọt vào khe sâu, suối nước, vọng tưởng trong lòng pháp chủ Trúc Lâm.
Rề........nn.
Kẻ tu hành thì sướng sao được. Khi ta rời bỏ vương quyền vào chốn thâm sơn cùng cốc đã có người bảo sau lưng rằng. Lão ấy vốn ham hư danh thôi, muốn được ngang hàng với thái tử Tất Đạt Đa ở nước Ấn xa xôi. Làm gì phải nhọc công đến nơi cùng cốc. Khó nhọc ai nấy thấy từ đầu. Ta vốn là bậc quân vương, những ngày đầu tu tập chay tịnh, khổ luyện không phải là không có lúc nhọc người. Tương một hũ, cà một lọ, rừng rú âm u, rau rừng thay cho mĩ vị, tiếng muông thú thay cho đàn địch. Ta đâu than phiền, hối tiếc. Ta viết Sơn phòng mạn hứng để tỏ nỗi niềm.
Ai buộc mà đi giải thoát tìm?
Không phàm sao phải kiếm thần tiên
Vượn mòn, ngựa mỏi ta già phải
Như cũ am mây một sập thiền

Phải trái tâm theo hoa sớm rơi
Lợi danh dòng lạnh mưa đêm rồi
Hoa tàn, mưa tạnh non im ắng
Một tiếng chim kêu xuân hết thôi
...
Tôn Đức ngồi thế thiền, giữ cho lưng thẳng thắn, thấy mình nhẹ bỗng như lông vũ chim thiên tước. Hai đệ tử túc phục. Pháp Không tay đan siết vào nhau, suy tư cực độ. Bảo Sái bình lặng như nước hồ thu, sóng cồn chuyển dội từ đáy. Con muỗi rừng bấu vào mu bàn tay, Bảo Sái phẩy tay, muỗi bay vọt lên, tiếng vo ve giận dữ. Pháp Không giật mình. Bảo Sái bấm nhẹ vào tay: “Đừng để ý đến những chuyện ấy”.
Trời bỗng sáng rực lên.
Chừng ấy người thôi. Những người theo ta, họ có thực lòng hay chỉ theo danh một ông hoàng mà mưu danh phật pháp. Lòng người khó lường, biết ai là chân thật. Ta có nghi ngờ chăng? Đức tin của ta đặt đúng chỗ chăng? Hai bàn tay úp rồi lại mở ra, đời người cũng như hai bàn tay thôi. Đệ tử cũng như hai bàn tay ta, ngón ngắn, ngón dài.
Một ngôi sao sáng rực trôi vào đêm tối mịt mùng, Tôn đức quay sang.
- Có thấy gì không?
- Thưa, một ngôi sao đáp hạ về nam.
- Có điềm lạ chăng?
- Khi đệ tử lên Ngọa Vân, qua suối Doanh thấy nước dâng cao đến mấy trượng.
Đức Nhân Tông bỗng nói to lên.
- Ta biết được ta, ngươi hãy nghỉ đi một chốc, đừng lo lắng nhiều nữa. Điều tất đến sẽ đến.
Nhân Tông yên lặng, mường tượng những việc xung quanh. Trước mặt ngài nổi lên một đài sen giống như thuở thiếu thời nằm mộng trong chùa Tư Phúc. Giấc mộng khi xưa đã rất gần, đài sen vươn dần lên khỏi mặt nước. Cánh sen hồng đậm, hoa sen xếp dầy từng lớp. Hoa sen của ngày khai mãn. Đài sen đang mở ra, đợi một người lên ngồi ở trên ấy. Ngày của ta đã đến, chiếc lá rừng giật mình rơi tạt ngay dưới chân thượng hoàng.
Người ta nhẹ đi, đến giờ định rồi chăng? Phật pháp có ngày hưng thịnh, có ngày suy vi. Ta truyền lại y bát cho Pháp Loa, tất nhiên trong lòng có điều khó nói. Phật pháp cao cả, trí người có hạn, làm sao để việc hoằng pháp còn mãi về sau không bao giờ dứt. Chim hồng hộc bay cao mãi cũng phải dừng cánh nghỉ ngơi.
Thái Tổ đã từng dứt hoàng bào về Yên Tử học làm Phật, quốc sư Trúc Lâm thưa rằng. “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm. Tâm lặng lẽ và sáng suốt, đó chính là Phật”. Nhưng bắt đầu thế nào? Ta xác lập được chí hướng của mình, nếu không sẽ thành công cốc. Ta từng dạy đệ tử rằng: “Pháp tức là tính, phật tức là tâm. Tính nào chẳng phải là pháp? Tính nào chẳng phải là Phật. Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp, pháp vốn chẳng pháp. Tức pháp, tức tâm, tâm vốn chẳng tâm, tức tâm tức Phật...”.
Ta độ cho mấy nghìn người, như thế đã gọi là mãn nguyện chưa. Đệ tử thông hiểu phật pháp hay còn mải mê hư vị hão huyền, đến khi tìm ra huyền diệu thì không còn gì là sức lực nữa. Đường đi chông gai, biết đâu là chỗ trú chân yên lành được.
- Hãy thắp một nén hương thơm cung kính.
Niêm hương.
Hương làm bằng rễ bài mọc dưới chân Yên Tử đốt đượm và thơm quá, mùi hương cho trí não thanh tịnh, hương thơm bay khắp chốn cùng. “Một nén hương này, khói lành thơm phức, khí tốt bay lên, ngưng đọng năm phần pháp thân, biến mười phương lễ diệu… Một nén hương này, nướng cũng không chín, đốt cũng không cháy, gõ vào không mở, kéo lại không đến, ngó trộm thì con ngươi khô kiệt, ngửi thì cửa não tách đôi...”
Có ai dõi theo ta không? Chẳng ai cả. Ta xuất gia tu hành nhưng vẫn là bậc quân vương, người đời e dè, kiêng nể. Ta tự mình nghiêm cẩn với mình thôi. Cũng có lúc không khỏi trông thấy miếng thịt gà, bát canh cá chép. Nếu ta lén ăn thì ai dám nói điều gì? Nhưng ta giữ mình cho chính ta. Mâm cao cỗ đầy nhưng lòng người đâu thèm muốn. Những bài học kinh pháp đầu tiên là của Tuệ Trung thượng sĩ. Nhưng thấy thượng sĩ sống rất thế tục, ta sinh ra ngờ vực, bèn giả bộ ngây thơ lén hỏi: “Chúng sinh quen nghiệp uống , ăn thịt thì làm sao tránh được tội báo?”. Thượng sĩ giải rõ: “Giá như có người đứng quay lưng lại, bỗng nhà vua đi qua sau lưng, người kia bất ngờ ném một vật gì đó trúng nhà vua. Người ấy có sợ chăng? Vua có giận chăng? Như vậy phải biết hai việc không liên quan gì tới nhau”. Ta có làm được như ngài? Ta đã là vị chân chủ. Làm thế e phiền lòng, các đệ tử không yên trí mà tu hành được. Nhưng chuyện đó qua lâu rồi, ta đâu phải bận tâm nữa.
Nửa đêm.
Mây gió ngừng bặt. Không gian khoáng đạt, mát lộng. Tiếng vượn hú não dứt hẳn, trời đã qua cơn vận mình ghê gớm. Đằng đông, một ngôi sao sáng rực đang đốt cháy lần cuối. Đức phật hoàng cố ngồi dậy nhưng không nổi, Bảo Sái muốn giúp nhưng ngài bảo.
- Đã không được thì thôi, đừng níu giữ. Bây giờ là giờ gì ?
- Thưa, giờ Tí.
Điều Ngự hé môi, tiếng nhỏ, mỏng như gió, đôi mắt bình thản yên bình.
- Đây là giờ ta đi.
Lặng ngắt. Nghe thấy cả tiếng thở của rừng già nén lại. Sột soạt. Rì rầm. Râm ri. Người đệ tử trung thành không một giây chớp mắt.
- Thưa Tôn đức đi đâu?
Không có tiếng trả lời. Pháp chủ đang nhập dần vào cõi hư không.
- Ngươi nghe bài kệ của ta đây.
- Dạ, đã sẵn nghiên bút.
Pháp chủ đọc chậm rãi:
Mọi pháp đều không sinh
Mọi pháp đều không diệt
Nếu hiểu được như vậy
Phật hiện ra trước mặt
Không đến cũng không đi
Bảo Sái hỏi khẽ.
- Nếu không sinh, không diệt thì thế nào?
- Tai ngươi điếc rồi chăng?
Nói xong ngài nằm như thế sư tử, lặng lẽ ra đi.
Trên đỉnh Ngọa Vân mưa bắt đầu tuôn rạt, gió rừng gào thét tiễn đưa Tôn đức về cõi Niết bàn.
Đó là đêm mùng một, tháng mười một, năm Mậu Thân (1308), cách đây vừa tròn bảy thế kỉ.

tranhotel
27-06-2011, 05:51 PM
Mọi pháp đều không sinh
Mọi pháp đều không diệt
Nếu hiểu được như vậy
Phật hiện ra trước mặt
Không đến cũng không đi

GloomySunday
10-11-2011, 04:38 PM
đọc mệt xỉu