PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Bùi Thị Xuân



ptvinhvl
16-09-2009, 10:15 AM
Tiễn chồng đem quân vào Diên Khánh đánh giặc Ánh tháng trước thì tháng sau Bùi Thị Xuân hay tin: Gặp năm mất mùa dân đói, nhiều phủ huyện ở trấn Quảng Nam sinh loạn. Trấn thủ Quảng nam khi ấy bất lực không kìm chế nổi. Vua Cảnh Thịnh lập tức triệu quân thần tìm một người có tài trị nước vào thay trấn thủ Quảng Nam, để vỗ yên xã tắc.

Triều thần tiến cử Bùi Thị Xuân, một tướng tài đảm đương trọng trách ấy. Vua Cảnh Thịnh không nghi ngờ gì về tài cầm quân của Bùi Thị Xuân. Bởi vì, nữ tướng đã từng xông pha trăm trận, lập được công to từ thời vua cha còn sống. Nhưng Cảnh Thịnh còn nữa tin nữa ngờ về tài trị nước của Bùi thị Xuân. Vua cho vời Bùi Thị Xuân tới hỏi:

Trấn Quảng Nam không yên, trẫm rất lo. Nữ tướng sẽ làm thế nào trị được nạn trộm cướp, giúp dân an cư lạc nghiệp?

Cặp mắt đen láy của Bùi Thị Xuân thoáng buồn:

Tâu Hoàng thượng! Vì mất mùa dân đói, quan lại không hết lòng thương dân nên sinh loạn.

Vị vua trẻ cắt ngang:

Nữ tướng trước hãy đánh diệt bọn cướp rồi làm cho dân yên.

Bùi Thị Xuân vội đáp:

Tâu Hoàng thượng! Người xưa nói: Ai được nhân tâm thì hưng thịnh, ai mất nhân tâm thì tan vỡ. Ai cậy vào đức thì hùng cường; ai cậy vào sức thì sẽ mất. Xem vậy, cầm quân dẹpn loạn không phải là kế hay mà tuyển dụng người hiền tài để dân được yên mới là điều nên làm.

Sửng sốt trước lý lẽ của Bùi Thị Xuân, vua Cảnh Thịnh tươi nét mặt:

Trẫm nghe rất vừa ý.Việc cần kíp, nữ tướng hãy một phen vất vả vì trẫm. Cần gì, trẫm sẵn lòng giúp đỡ.

Bùi Thị Xuân từ tốn:

Tâu Hoàng thượng! Trị loạn cũng như gỡ tơ rối không thể gấp. Thần thiếp chỉ xin các quan Thái sư, Ngự sử chớ lấy văn pháp mà cản trở thần thiếp được tùy nghi làm việc.

Ít ngày sau, Bùi Thị Xuân đem quân vào Quảng Nam. Viên Trấn thủ Quảng Nam cũ trước lúc bị cách chức đã nói nhỏ với Bùi Thị Xuân về mối lo dân chúng không còn tin tưởng vào triều đình nữa. Chính viên Trấn thủ già nua ấy đã thẳng thắn khuyên Bùi Thị Xuân hãy tránh xa triều đình Cảnh Thịnh để giữ lấy mình. Bùi Thị Xuân hiểu tâm trạng viên quan già nhưng chẳng đồng tình.

Sự thật thì triều Tây Sơn sau khi vua Quang trung băng hà đã nhanh chóng đi vào cái rớp xấu: Nạn bè phái tranh chấp, giết hại lẫn nhau. Cảnh Thịnh nối ngôi cha, còn ít tuổi, chỉ ham chơi bời. Quyền chính triều đình về tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên, anh cùng cha khác mẹ với vua Cảnh Thịnh. Tuyên tác oai tác quái làm cho mọi người oán giận. Lợi dụng cơ hội ấy, Nguyễn Phúc Ánh chia quân làm nhiều mũi tiến đánh Phan Rí, Nha Trang, Diên Khánh, Bình Khang, Phú Yên rồi thừa thẳng kéo ra cửa Thị Nai.

Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai thái tử là Nguyễn Bảo đem quân ra chống cự. Nguyễn Bảo thua trận phải chạy về Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc cầu cứu vua Cảnh Thịnh. Cảnh Thịnh sai Phạm Công Hưng và Đặng Văn Trấn đem quân thủy, bộ cùng tiến vào Quy Nhơn. Nguyễn Ánh hoảng hốt rút lui. Giải vây cho Quy Nhơn, Phạm Công Hưng ra lệnh tịch thu kho tàng và binh khí của vua Thái Đức.

Nguyễn Nhạc uất hận thổ ra máu mà chết. Nuôi chí chiếm Quy Nhơn, Cảnh Thịnh phong cho Nguyễn Bảo con Nguyễn Nhạc là Hiếu Công và cắt cho huyện Phù Ly làm nơi thực tập ấp, và lần lượt cử bọn Bùi Đắc Trụ con Bùi Đắc Tuyên, Nguyễn Văn Huấn và Lê Trung thay trấn giữ Quy Nhơn, giám thị Nguyễn Bảo. Mẹ Nguyễn Bảo thấy thế tức giận bảo con:

"Khai thác đất nước là công của cha mày, nay mày ăn lôïc một huyện mà chịu nhục, chẳng thà chết đi cho rồi".

Biết được ruột gan Nguyễn Bảo, Nguyễn Ánh xui giục Nguyễn Bảo làm phản chống lại triều Tây Sơn. Về sau, nhân nội tình triều Cảnh Thịnh lục đục, Nguyễn Bảo nổi lên chiếm Quy Nhơn, Phú Yên rồi viết thư xin đầu hàng Nguyễn Ánh, nguyện xin làm tướng tiên phong đánh quân Tây Sơn. Được tin ấy, Nguyễn Ánh vội sai Nguyễn Văn Thành đem quân đi tiếp ứng Nguyễn Bảo.

Nhưng quân Nguyễn Văn Thành chưa kịp tới thì Nguyễn Bảo đã bị quân Cảnh Thịnh kéo vào vây bắt ở Quy Nhơn rồi giết chết. Lê Trung là trấn thủ Quy Nhơn cũng bị giết. Trong lúc triều Cảnh Thịnh hư đốn đến thế, thì bọn quan lại ở các trấn đua nhau bóc lột, đục khoét nhân dân. Lấy để chấn áp cựu đảng họ Nguyễn ở Đàng trong và họ Lê ở Đàng ngoài, chúng thẳng tay hà hiếp, có khi tàn phá cả làng. Nhiều nơi, binh sĩ Tây Sơn trở thành nỗi kinh hoàng của dân chúng.

Đau lòng trước hiện trạng triều Tây Sơn, ôm nặng nỗi lo sợ về nguy cơ suy vi của triều Cảnh Thịnh nhưng không giống như viên cựu trấn thủ Quảng Nam bê trễ, lảng tránh việc triều chính. Bùi Thị Xuân sẵn sàng đảm đang trọng trách, mong giữ vững kỷ cương của phép nước, chỉnh đốn bộ máy quan lại, chăm lo sức dân, thu phục nhân tâm. Nội tình triều Cảnh Thịnh khiến người chính trực đau lòng, nhân tâm ly tán. Không dễ quên công đức trời biển của hoàng đế Quang Trung xưa. Nếu vậy chẳng lẽ dân chúng lại không tha thiết gắn bó với triều Tây Sơn, không lo lắng cho vận nước, trong lúc quân Nguyến Ánh ở Đàng trong, được bọn Tây Dương giúp tàu đồng, binh khí sửa soạn đem đại quân đánh nhà Tây Sơn?

Phải trấn yên xã tắc, thu phục lòng dân, mới giữ vững được nước, bảo vệ cơ đồ mà hoàng đế Quang Trung đã gầy dựng. Nghĩ vậy nên ngay sau khi nhậm chức trấn thủ Quảng Nam, đốc suất đội quân năm nghìn người phòng giữ thành phủ, Bùi Thị Xuân quyết định làm một việc chưa một viên trấn thủ Tây Sơn nào dám làm, là tự mình đi thị sát khắp các hạt để nghe ngóng tìm hiểu dân tình, cứu đói, chấn chỉnh việc coi quân trị dân của các viên quan phủ, huyện. Quế Sơn là huyện đầu tiên nữ tướng chú ý đến.

Hôm về huyện, Bùi Thị Xuân và viên tướng tùy tùng đến địa phận Quế Sơn, viên huyện quan thân đem binh lính đón. Bùi Thị Xuân liền cho lính trở về. Đến huyện lỵ, Bùi Thị Xuân ra lệnh bãi bỏ các cuộc truy lùng bọn cướp và tuyên cáo: Hễ ai vác cày bừa, nông cụ được coi là dân lành, quan lại không được hỏi. Ai mang binh khí bị coi là trộm cướp, sẽ bị nghiêm trị. Đồng thời Bùi Thị Xuân mở kho phát chẩn cho dân đói. Ai già cả bệnh tật cho gấp đôi. Viên huyện quan có hành động mờ ám, chiếm công vị tư, ăn hối lộ. Bùi Thị Xuân thẳng tay cách chức, chọn người tài đức lên thay.

Bằng sự quyết đoán táo bạo: Cách chức bọn quan lại thối nát, bãi bỏ các cuộc truy lùng bọn cướp, tỏ cho bọn cướp biết mình không bị coi là trộm cướp, mở đường cho dân lầm đường về với đời sống lương thiện, thẳng tay trừng trị những ai cố tình gây rối. Vì thế nạn trộm cướp ở Quế Sơn đã chấm dứt, dân chúng yên ổn, vui vẻ làm ăn. Bùi Thị Xuân còn đặc biệt cho nêu cao gương kiện ước, khuyến khích dân tăng gia, trồng mầu, bắt đầu mỗi nhà phải nuôi lợn nuôi gà.

Vì vậy, cả vùng Quế Sơn vui theo nghề nông, mùa màng bội thu, nhà nào cũng có thóc chứa. Tiếng tăm tên quan trấn thủ biết thương dân, có đức rộng chẳng mấy chốc lan rộng khắp Quảng Nam. Uy danh, tài trí của Bùi Thị Xuân trở thành niềm tin yêu tự hào của dân chúng Quảng Nam. Được một người xuất chúng như thế trị nhậm, trấn Quảng Nam được yên.

Trở về thành Quảng Nam sau chuyến đi thị sát dài ngày, Bùi Thị Xuân bỗng nhận được tin dữ: Triều Cảnh Thịnh sinh đại biến, người báo tin ấy cho Bùi Thị Xuân chính là viên phó tướng mà Bùi Thị Xuân phái về kinh thành Phú Xuân, để lo đồ mặc ấm cho binh sĩ. Viên phó tướng kể lại rằng: Triều Cảnh Thịnh trở lên suy sụp khi thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền gọi Đại tư đồ Vũ Văn Dũng ở Bắc hà về Phú Xuân và cho Đại tư mả Ngô Văn Sở ra thay. Vũ Văn Dũng về đến trạm Hoàng giang thì gặp Trần Văn Kỷ bị đày ở đó. Kỷ đang căm tức Bùi Đắc Tuyên, liền khuyên Dũng kéo quân về Phú Xuân bắt Tuyên.

Vốn nghi ngờ Tuyên hại mình, Vũ Văn Dũng nghe lời Kỷ, đem quân về Phú Xuân bắt toàn bộ gia quyến Bùi Đắc Tuyên. Dũng lại làm chiếu giả cho người ra Bắc Hà đòi Ngô Văn Sở về và cho quân vào Quy Nhơn bắt con trai Bùi Đức Tuyên là Bùi Đức Trụ đang giữ chức lưu thú ở đó. Kết Vũ Văn Dũng kết tội những người thuộc phe cánh đối địch với mình là phản bội rồi lần lượt bỏ rọ dìm xuống sông cho chết hết. Sau đó Dũng cho mời Trần Văn Kỷ ở Hoàng Giang về giữ chức trung thư lệnh như trước.

Kể lại đầy đủ, rành mạch câu chuyện đã xảy ra, viên phó tướng của Bùi Thị Xuân nói thêm:

Mưu độc của quan Đại Tư đồ không chỉ có vậy. Tôi nghĩ rằng đối vơi chủ tướng và quan thiếu phó Trần Quang Diệu, quan đại tư đồ vì sợ mà chưa dám hành động. Vậy chủ tướng nên tìm kế đề phòng kẻo nguy hại đến tính mạng.

Đôi mắt to đen rất đẹp của Bùi Thị Xuân rực lửa:

Cảm ơn phó tướng đã cho ta hay một tin hệ trọng. Cũng không phải bây giờ cho ta biết bụng dạ lũ người ấy. Chỉ buồn là giặc Ánh thì quỷ quyệt, đang mưu lật đổ cơ nghiệp nhà Tây Sơn mà triều đình lại chẳng thuận hòa. Đã vậy, vua lại không quyết đoán, thường dùng người thiên lệch. Nếu ta cũng chỉ lo việc kết bè đảng, không lo việc đánh giặc, húc đầu vào sát phạt nhau thì họa mất nước thực chẳng còn xa.

Viên phó tướng giọng buồn buồn:

Lo giữ nước là việc hàng đầu nhưng xin chủ tướng chớ quá coi thường phái quan đại đô đốc.

Bùi Thị Xuân phác một cử chỉ kiên quyết:

Ta đã không chết khi theo tiên đế đánh Nguyễn diệt Trịnh, cả phá giặc Xiêm, giặc Thanh, lẽ nào ta lại chết trong tay lũ phản nghịch chẳng lẽ Hoàng thượng không áp chế lũ bất nhân khi chính Hoàng thượng đã trao binh quyền cho chính vợ chồng ta? Nhược bằng Hoàng thượng đổi dạ nghe bọn người ấy bắt ta phải chết thì chính ta xin được chết trước trận tiền, trước ba quân để báo đền ơn nước.

Mặc dù nói vậy nhưng thực sự tình thế đặt Bùi Thị Xuân vào hoàn cảnh khó xử. Vốn là quan thái sư Bùi Đắc Tuyên, và cũng như chồng, ít nhiều đứng về phía Bùi Đắc Tuyên cho nên thấy phái mình bị diệt, Bùi Thị Xuân vô cùng căm giận. Nhưng trước họa giặc Ánh đang lăm le đánh ra nhiều nơi, Bùi Thị Xuân cân nhắc nên ở lại giữ thành Quảng Nam phòng giặc bất thần đánh ra hay đem quân hồi triều hỏi tội lũ rũ rối triều chính? Suy đi tính lại, Bùi Thị Xuân thấy rõ, đem quân hồi triều lúc này là trái mệnh vua.

Vả, làm việc ấy sẽ kinh động triều đình, lòng dân dễ nản. Xét cho cùng, nếu cuộc đụng độ có xảy ra thì kẻ có lợi lại chính là giặc Ánh. Cho nên, Bùi Thị Xuân gấp cho người đi Diên Khánh báo tin cho Trần Quang Diệu; mặt khác, nữ tướng thân lên mặt thành đôn đốc việc canh phòng và phái đội thám mã sành sỏi đi về hướng giặc.

Quả nhiên, lợi dụng triều Cảnh Thịnh lục đục, Nguyễn Ánh cử Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh đem quân ra đánh Phú Yên, còn tự mình đôn đốc xuất quân thủy, bộ ra đánh Quy Nhơn. Đến Quy Nhơn, thấy lực lượng quân Tây Sơn còn mạnh, Nguyễn Ánh bỏ Quy Nhơn, xuất kỳ bấy ý đem quân đánh Quảng Nam. Vì đã chú ý đề phòng nên đội thám mã của Bùi Thị Xuân đã phát hiện được quân Ánh từ khi chúng còn ở Bản Tân.

Giữa lúc đang tính kế đánh Nguyễn Ánh thì một việc khẩn cấp lại xảy đến. Ngay ngày hôm ấy, viên nữ tướng Tây Sơn nhận được chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh thúc phải hồi triều:

Việc gì đã xảy ra ở kinh đô, Bùi Thị Xuân nâng chiếu chỉ đặt lên án thư, hỏi viên tướng tùy tùng Việc hồi triều này có phải là mưu Vũ Văn Dũng định hại ta chăng?

Viên tướng tùy tùng, giọng ái ngại:

Có thể nào chủ tướng cũng thoái thác không về vội, phòng bất trắc.

Bùi Thị Xuân nóng nảy:

- Trong tay có đội nữ binh thiện chiến, dốc lòng vì vua vì nước, lũ gây rối triều đình chỉ như cá nằm trên thớt, mà kẻ cầm đao lại là ta. Song ta bận tâm về chuyện khác. Ngươi không hay biết Nguyễn Ánh đã đem quân ra đó sao? Chợt Bùi Thị Xuân hỏi: Phó tướng còn ở trong quân doanh không?

- Thưa chủ tướng! Nữ tướng Lộc vừa ra ngoài thành theo lệnh của chủ tướng.

- Vậy, ngươi triệu các đội trưởng lại ngay.

Chỉ một lúc sau, các đội trưởng, vẻ mặt căng thẳng đã đến đủ.Bùi Thị Xuân lướt nhìn các khuôn mặt thân thiết, nhưng cặp mắt dò hỏi, giọng chắc nịch:

Nội nhật ba ngày nữa, vâng theo chiếu chỉ của Hoàng thượng, chúng ta phải đem binh trở về Phú Xuân. Vậy các ngươi hãy chào dân, thu xếp lương ăn, lau chùi binh khí sẵn sàng đợi lệnh ta.

Một đội trưởng không kìm được sửng sốt:

- Thưa chủ tướng! Chúng ta bỏ thành này và...

- Phải theo lệnh Hoàng thượng!Bùi Thị Xuân không muốn để viên đội trưởng nói đến việc đánh giặc Ánh, nên cắt ngang, nếu không thì còn gì là kỷ cương nữa.

Các đội trưởng hiểu rõ phong cách đối xử bất thường của chủ tướng họ ẩn một cái gì hệ trọng chưa thể tiết lộ được, nên đã kìm nổi băn khoăn ra về. Đọc được những ý nghĩ ấy trong cái nhìn ngỡ ngàng nhưng biết sự kìm chế của các đội trưởng, Bùi Thị Xuân thấy lòng ấm áp, hơn thế, nột nõi xúc động tràn ngập đến trào nước mắt, Chính tình thương yêu, sự gắn bó, nỗi cảm thông của các viên đội trưởng và tất cả nữ binh, đã nâng bỗng tâm hồn viên nữ tướng, khích lệ viên nữ tướng ném tất cả sự khôn ngoan, sáng suốt và táo bạo đánh thắng kẻ thù.

Bây giờ cũng vậy, trước kẻ thù nham hiểm, lọc lõi, trước sự dồn ép từ mệnh lệnh của triều đình Cảnh Thịnh, chính tình thương yêu đồng độ bắt nguồn từ nghĩa lớn: Mưu cảnh thịnh trị, thái bình, trong ấm ngoài êm cho muôn họ, đã tiếp cho Bùi Thị Xuân đủ sự thông minh để quyết định trong một thời gian ngắn nhất sẽ làm được cả hai việc: đánh Nguyễn Ánh và hồi triều. Trong khốn khó mới tỏ được trí khôn. Một kế đánh tàn bạo đã nhanh chóng được xếp đặt trong đầu viên nữ tướng.

Có tiếng chân người gấp gáp, bước tới. Viên phó tướng của Bùi Thị Xuân, mặt đỏ gay tiến vào hỏi:

Thưa chủ tướng! Chủ tướng định đem quân hồi triều sao?

Bùi Thị Xuân từ ngạc nhiên đến thích thú trước sự nổi nóng bất thường của viên phó tướng:

- Vậy, ý nữ tướng khác thế chăng?

- Xin chủ tướng nghĩ lại. Tướng ở ngoài triều có quyền tự ý hành động. Chúng ta không thể mang tiếng hèn nhát chạy giặc.

Bùi Thị Xuân bật cười:

Nữ tướng cũng hiểu lầm bụng ta. Vậy, trận này giặc Ánh tất phải mảnh giáp không còn. Ta muốn làm kiêu lòng giặc mà tuyên ngôn vậy thôi.

Chợt hiểu, phó tướng Lộc ngượng nghịu cúi đầu.

Quả như dự đoán của Bùi Thị Xuân, sau khi biết tin viên nữ tướng Tây Sơn sửa soạn đem binh hồi triều, Nguyễn Ánh cho là Bùi Thị Xuân không phòng bị, lập tức hành quân gấp tiến đánh Quảng Nam. Nhưng trận ác chiến đã diễn ra hoàn toàn đảo ngược với những tính toán của Nguyễn Ánh. Trên đường quân Ánh tiến tới Quảng Nam, chúng đã bị đội quân thiện chiến của viên nữ tướng Tây Sơn phục đánh đúng chỗ Bùi Thị Xuân đã chọn.

Trận ấy, Nguyễn Ánh đi đoạn hậu may mắn thoát chết. Nhưng mối nhục thua cả trí lẫn tài người nữ tướng Tây Sơn đã khiến cho Nguyễn Ánh lồng lộn tức tối. Đem tàn quân rút về đến Gia Định, Ánh nói phao lên rằng quân hắn vì hết lương nên không cốt chiếm Quảng Nam, giấu biệt trận thua đau bất ngờ. Lập được công lớn, tên tuổi Bùi Thị Xuân nổi lên như sóng cồn. Những kẻ ghen ghét Bùi Thị Xuân ở triều thấy vậy tìm cách gièm pha, cố hại Bùi Thị Xuân.

Quan Thiếu Bảo Nguyễn Văn Huấn sau khi được Vũ Văn Dũng phái đi ám hại Trần Quang Diệu không thành đã nhân cơ hội ấy, vu khống với vua rằng: Bùi Thị Xuân cậy có chút công với tiên đế, ỷ quyền trấn thủ Quảng Nam đi kinh lý các nơi tha hồ lộng hành cách chức người chính trực, mưu kết bè đảng, xem ra hành động có phương lược lắm. Đã thế, Bùi Thị Xuân lại tự phụ, cưỡng mệnh Hoàng thượng không chịu hồi triều. Người như vậy phải trừ đi, phòng hậu họa.

Vua Cảnh Thịnh cả nghe Nguyễn Văn Huấn, lần thứ hai xuống chiếu triệu Bùi Thị Xuân hồi triều.

Chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh tới Quảng Nam thì Bùi Thị Xuân được tin dữ: Trần Quang Diệu đã đem quân từ Diên Khánh về dàn trận đánh nhau với Vũ Văn Dũng ở Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh phải thân ra khóc lóc, dàn xếp mới tránh cuộc xung đột đổ máu giữa hai viên hổ tướng triều đình.

Bùi Thị Xuân đề lại ba nghìn quân do phó tướng Lộc ở lại giữ thành, còn mình đem hai nghìn quân trở về Phú Xuân.

Về đến kinh thành, hay tin quan thiếu phó Trần Quang Diệu và quan Đại Tư đồ Vũ Văn Dũng vì nước đã xóa bỏ hiềm khích, và được vua Cảnh Thịnh cử đem quân tiến vào khôi phục thành Quy Nhơn vừa bị mất, Bùi Thị Xuân lo lắng vào chầu vua ngay.

Vừa thấy Bùi Thị Xuân, vua Cảnh Thịnh làm mặt giận:

Vẫn biết tướng ngoài triều không cần phải theo mệnh vua. Nhưng triệu khanh về là việc quân quốc trọng sự. Vậy mà trẫm phải đêm ngày thấp thỏm lo lắng, là nghĩa làm sao?

Bùi Thị Xuân sụp lạy:

Muôn tâu Hoàng thượng! Thần thiếp tài hèn đức mọn, xin khấu đầu trước bệ rồng chịu tội.

Vau Cảnh Thịnh nổi giận:

Bọn khanh cậy có chút công với tiên triều nên có bụng tự phụ cho mình là giỏi, khinh thường các đại thần, xem nhẹ lệnh trẫm?

Bùi Thị Xuân ngỡ ngàng:

Tâu Hoàng thượng. Thần thiếp mà có bụng ấy xin không được trông thấy mặt rồng một lần. Huống hồ, thần thiếp đã làm gì nên công. Thần thiếp ngỡ rằng lũ xấu bụng đã tâu lên Hoàng thượng những điều đổi trắng thay đen để làm hại người ngay thẳng.

Vua Cảnh Thịnh nổi nóng:

Người hãy trả lời ta, từ ngày cử ngươi vào trấn thủ Quảng Nam, có phải ngươi chỉ lo kết bè đảng, mua chuộc lòng dân, tạo uy tín cho riêng mình hay không? Ngươi đem binh về chậm là vì cớ gì? Ngươi biết ta nể bọn ngươi nên lên mặt quá trớn chăng?

Bị oan ức nhưng Bùi Thị Xuân không phải là người nói giỏi, càng không phải làngười nói khéo. Hơn thế, cũng như chồng, nữ tướng vì không muốn để minh oan lại làm tổn hại đến việc mình đang theo đuổi là tạo nên sự đồng tâm nhất trí trong triều đình, nhằm đối phó với giặc. Vì vậy, sau một phút yên lặng, nữ tướng nước mắt rơm rớm tâu:

Thần thiếp được Hoàng thượng phó thác cho việc coi quân trị dân đâu dám không rũ lòng thương yêu muôn dân, không theo đạo nhân nghĩa của Hoàng thượng để biến ý đấng tối thượng thành ý dân. Thiết nghĩ, nếu thần thiếp làm việc theo ý mình, trái lòng người, che ác với vua, kết bè đảng, vụ lợi cho riêng mình, không thích nghe thích xét mọi nguyện vọng của muôn dân, để dân oán triều đình, ấy mới là tội. Thần thiếp lo cố kết lòng dân, khuyến khích lòng trung quân ái quốc của trăm họ chính là để tạo cho thế nước ở đỉnh cao ngàn trượng, đủ sức cự giặc chứ đâu phải thần thiếp không biết xả thân vì vua vì nước.

Lại nữa, trong lúc quân giặc do đích thân Nguyễn Ánh tiến đánh thành Quảng Nam, thần thiếp lo đánh tan giặc rồi hồi triều, tưởng cũng là việc chứ đâu phải dám xem thường thượng lệnh.

Vua Cảnh Thịnh ngẩn người:

Khanh nói sao? Nguyễn Ánh tiến binh ra bao giờ?

Trước lúc thần thiếp đem binh hồi triều, mấy nghìn quân của Nguyễn Ánh đã áp đánh thành Quảng Nam, thần thiếp ân hận đã để Ánh và lũ quân chạy thoát.

Vua Cảnh Thịnh sửng sốt, dịu giọng:

Lạ thật! Chuyện thế mà sao khanh không tâu ngay để trẫm rõ đầu đuôi sự thật?

Vua nói xong không đợi trả lời, vội rời ngai vàng đi bách bộ trong tòa điện lớn. Dường như ông vua trẻ sao nhãng việc triều chính suy nghĩ lung lắm. Một lúc lâu, vua dừng lại ngắm nhìn Bùi Thị Xuân, giọng nhẹ nhàng:

Khanh có biết trẫm triệu khanh về vì cớ gì không?

Bùi Thị Xuân lặng lẽ cúi đầu.

- Bọn giặc Ánh đang sửa soạn đại binh đánh ra, mà thực là khanh đã đánh lui giặc. Ánh đắc chí vì được bọn Phú lãng sa trợ giúp binh sĩ, tàu đồng, vũ khí tưởng có thể nuốt trôi được ta. Chúng dám to gan mưu lấy đất Quy Nhơn, gây mối lợi về sau. Bởi thế, trẫm đã phái quan thiếu phó cùng Đại Tư đồ Vũ Văn Dũng đem đại binh tiến vào Quy Nhơn. Triệu khanh về là để giữ kinh thành, phòng giặc liều mạng đánh ra.

- Muôn tâu Hoàng thượng! Thần thiếp đêm ngày lo điều ấy. Nhưng giữ kinh thành là việc lớn, phận nữ nhi đâu cáng đáng được!

- Khanh quá nhún mình. Trẫm nghĩ kỹ rồi, làm tướng bản triều không ai hơn được khanh. Giao cho khanh việc lớn là để đền ơn tiên đế và báo ơn cho trẫm vậy.

- Muôn tâu Hoàng thượng! Nước mạnh không cần xây nhiều thành trì. Bởi vì thành trì kiên cố nhất chính là lòng dân, Trước họa giặc Ánh, cốt quân dân một lòng, trên dưới thuận hòa mới là kế giữ nước lâu bền. Làm nên công lớn đâu phải là sức một người, huống hồ là thần thiếp!

Vua Cảnh Thịnh hỏi Bùi Thị Xuân:

Bây giờ giặc Ánh to gan, vận nước như trứng để đầu đẳng. Vậy khanh có hiến kế gì để yên lòng trẫm không?

Bùi Thị Xuân tâu:

Trăm họ ai cũng có lòng trung quân ái quốc, một lòng nhớ ơn tiên đế, sẵn lòng sống chết cho triều Tây Sơn. Nhưng bao năm chinh chiến, sức dân đã kiệt, quan lại không hết lòng thương dân nên không tránh khỏi tiếng oán than triều đình. Bởi vậy, điều cốt yếu lúc này phải khoan nới sức dân. Những kẻ cự quan nhiệm chức trong triều, ngoài trấn đã cốt vì thiên hạ, giết giặc tàn ác thì nên ăn theo lối mộc mạc để tỏ cái đức của mình, mới mong làm gương cho dân chúng. Thứ nữa, Hoàng thượng nên truyền hịch kể tội giặc Ánh hai lần rước voi về giày mồ, khích lệ trai tráng đầu quân thì chằng mấy chốc, Hoàng thượng sẽ có một đạo binh lớn, hết lòng vì nước, giặc Ánh phỏng làm gì được?

Vua Cảnh Thịnh hồ hởi: Khanh đã vén cho trẫm một đám mây mờ. Trẫn sẽ truyền hịch cho dân chúng. Khanh là tướng nên dốc lòng giúp trẫm chuyển binh, luyện tập cho tinh.

Bùi Thị Xuân mệt mỏi cáo lui.

Triều Tây Sơn phạm phải một sai lầm về chiến lược. Vì cay cú quyết chiếm được thành Quy Nhơn vừa bị mất, nên Cảnh Thịnh đã cho Trần Quang Diệu đem mười vạn tinh binh, Vũ Văn Dũng mang hầu hết chiến thuyền của Tây Sơn vào bao vây Quy Nhơn. Phú Xuân vì vậy bỗng trở nên sơ hở. Bùi Thị Xuân thấy được sai lầm ấy nhưng vì không có được toàn quyền hành động nên viên nữ tướng lo lắng tuyển quân, huấn luyện tân binh, sẵn sàng bước vào trận lửa.

Giữa một ngày đang luyện quân, Bùi Thị Xuân kinh hoàng hay tin thành Quảng Nam bị tướng giặc Tôn Thất Hội đem quân tiến đánh. Lo lắng cho tính mạng hàng ngàn nữ binh thân yêu của mình ở đó. Bùi Thị Xuân xin vua hành quân thần tốc vào cứu viện. Diệt được giặc, nhưng trên đường trở về Bùi Thị Xuân được tin Nguyễn Ánh. Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành thống lĩnh một ngàn chiến thuyền vượt biển đang đánh vào cửa Thuận An. Lập tức Bùi Thị Xuân thúc quân tiến gấp. Tin dữ do thám mã báo về, quân Tây Sơn do phò mã trị trấn cửa Thuận An đã bị vỡ.

Vua Cảnh Thịnh hiện đang thân đốc suất quân Tây Sơn cự giặc ở ngoài thành Phú Xuân. Rồi vua Cảnh Thịnh bị hãm trong vòng vây của quân giặc. Kịp về đánh tập hậu vào đội hình quân giặc, cứu vua thoát chết, nhưng rồi chính Bùi Thị Xuân và đội nữ binh thiện chiến lại bị quân Ánh trùng trùng điệp điệp bủa vây.

Bị thua trận, lại mất tướng tài, Vua Cảnh Thịnh sau đấy, bỏ chạy ra Thăng Long.

Từ ngày vua Cảnh Thịnh đem tàn quân chạy ra Thăng Long, ở các phố phường, các chợ bỗng lan truyền một bài thơ:

Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng

Trong cơn sóng gió phũ phàng

Ai người chèo lái vững vàng hỡi ai...?

Bài thơ hàm ý lo cho vận nước ấy khiến vua Cảnh Thịnh càng buồn phiền. Bởi vì đã mấy tuần trôi qua, ông vua trẻ cùng đám cận thần bạc nhược ấy chưa biết xoay xở, cứu vãn tình thế bằng cách nào. Cực chẳng đã, Cảnh Thịnh quyết định thiết đại triều để bàn kế giữ nước. Giữa lúc hiệu lệnh thiết triều nổi lên từ phía Nam thành, một đội nữ kỵ sĩ mặc võ phục màu đỏ đang phóng tới.

Người chủ tướng của đội nữ binh ngồi trên bành voi con độc ngà, tay trái bị thương đã được băng bó. Đến khu vực hoành thành, viên nữ tướng cho quân dừng lại nghỉ ngơi rồi một mình xốc kiếm đi vào hoàng cung. Vừa tới cửa cấm, viên nữ tướng liền bị quân canh ngăn lại. Làn da mịn màng trên khuôn mặt đôn hậu và thông minh của viên nữ tướng bỗng đỏ bừng:

Ta vào bệ kiến Hoàng thượng bàn kế đánh giặc.

Toán lính cận vệ cười ngặt nghẽo:

- Bản triều chỉ có một nữ tướng, kiệt tài tên là Bùi Thị Xuân thì người ấy đã liều mình cứu vua rồi. Nhà ngươi định dọa chúng ta phải không?

- Chính ta là Bùi Thị Xuân đây. Nữ tướng dõng dạc đáp.

Nghe vậy toán quân cấm vệ ngây người sửng sốt. Bùi Thị Xuân sải những bước dài đi qua toán quân cấm vệ. Vừa đến thềm điện, Bùi Thị Xuân đã trông thấy hai hàng đại thần vẻ mặt nghiêm trang, thành kính đang hướng về phía vua Cảnh Thịnh. Ngự trên chiếc ngai vàng bằng gỗ tứ thiết bóng lộn như sừng, vẫy rồng lấp lánh ánh bạc dát vào, vua Cảnh Thịnh tư lự đăm chiêu vẫn không giấu được nét trẻ trung hơn cả hai mươi tuổi của mình. Sau một giây cân nhắc, Bùi Thị Xuân lấy lại tự nhiên, tiến về phía vua.

Tiếng xì xào bỗng nổi lên. Vua Cảnh Thịnh xoay người.

Muôn tâu Hoàng thượng Bùi Thị Xuân quỳ xuống Thần thiếp từ Phú Xuân xin vào ra mắt Hoàng thượng.

Sau phút kinh ngạc, vua Cảnh Thịnh vỗ ngai đứng dậy, thân đỡ Bùi Thị Xuân, giọng lạc đi:

Khanh vẫn còn sống đó ư? Trẫm đêm ngày thương tiếc. Nếu không có khanh đem quân cứu giá hôm ấy, trẫm đã nguy khốn rồi. Chuyện đầu đuôi thế nào mà người ta tâu với trẫm khanh bị vây hãm rồi bị giết.

- Tâu Hoàng thượng! Sau lúc cố sức đánh không để giặc xúc phạm tới Hoàng thượng, thần thiếp cùng đội nữ binh ra sức cự địch ngăn không cho giặc chiếm kinh thành, chờ viện binh tới. Về sau, được tin Hoàng thượng đã ra Bắc Hà, thần thiếp liệu sức mình không cự nổi nên cũng thủ quân. Giặc Ánh cậy có mấy nghìn lính Phú lãng sa trong tay, diễu võ giương oai vậy thôi, chứ võ nghệ lũ ấy xem ra cũng rất thường.

Vua Cảnh Thịnh an ủi:

Thôi, còn tướng, còn quân sĩ là còn cơ hội khôi phục kinh thành. Trong lúc quốc nạn này Cảnh Thịnh tiếp các khanh phải vì trẫm nghĩ kế giữ nước. Trẫm lâu nay, ngày quên ăn, đêm quên ngủ cũng vì việc lớn còn canh cánh bên lòng.

Một viên đại thần bước ra tâu:

Cứ theo ý ngu thần thì một khi đã dời đô ra Thăng Long này thì đất Thuận Hóa khó mà giữ được. Lúc lâm chung, tiên vương dặn các tướng phải sớm giúp Hoàng thượng dời đô ra Phượng Hoàng trung đô. Xem vậy, ngay cả tiên vương cũng không trọng đất Thuận Hóa. Lại nữa Thuận Hóa vốn xưa không phải đất triều Lê. Các vua Lê phí bao nhiêu của cải mới lấy được xứ ấy rồi lại vẫn không giữ được. Cho nên mất cũng là may.

Bây giờ chỉ nên bàn tính việc đem quân trấn giữ Nghệ An và phái người giảo hoạt đi gặp Nguyễn Ánh phân rõ cương vực từ đất ấy. Nếu ta lấy sự mất đất Thuận Hóa làm may, ắt Ánh phải coi sự lấy đất của ta làm điều đáng ngại. Đó là kế vẹn toàn nhất.

Viên đại thần nói xong lui xuống, vẻ tự đắc. Nhưng y đã sầm mặt lại khi bắt gặp cái nhìn nảy lửa tỏ rõ sự khinh bỉ của Bùi Thị Xuân. Cùng lúc ấy, một đại thần khác, tâu:

Lời tâu của vị đại quan vừa rồi khác nào cúi đầu hàng giặc. Giặc Ánh đã đánh Phú Xuân, tất ngày một ngày hai sẽ đánh Nghệ An rồi đánh cả Thăng Long này nữa. Cho nên, muốn giữ được nước phải nghĩ kế phá giặc. Muốn phá giặc phải dụ chúng đến chỗ mình muốn đánh.

Diệu kế để đánh được giặc Ánh là dụ chúng ra Bắc Hà. Thử hỏi, nếu ta có cả chục vạn quân dàn đầy xung quanh Thăng Long, lại cử các tướng đốc lãnh các quân thủy đạo chặn giặc từ sông Luộc. Khi ấy, thế giặc kéo ra Bắc Hà chỉ như thế muỗi đội núi, tránh sao khỏi bị diệt.

Nhiều tiếng xì xào nổi lên. Vua Cảnh Thịnh tỏ rõ sự lúng túng trước những lời tâu ấy. Còn Bùi Thị Xuân, viên nữ tướng thấy máu nóng chảy rần rật khắp người. Và, trong nỗi giận không kìm được, Bùi Thị Xuân cất giọng lanh lảnh:

Muôn tâu Hoàng thượng! Thần thiếp chưa biết các vị văn quan này được Hoàng thượng sủng ái đến bậc nào nhưng thần thiếp xin mạo muội tâu rằng: Vị trước thì hiến kế dâng đất cho giặc, vị sau thì nói đến phá giặc nhưng thực là không dám cự giặc.

Trong lúc vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc, giặc thì quỷ quyệt hung hãn, kế sách ấy khác nào giở giáo đón giặc. Cho nên, thần thiếp cúi đầu xin Hoàng thượng bỏ ngoài tai những lời tâu không đúng phẩm giá của người trượng phu trong đạo thờ vua giúp nước.

Cả cung điện im lặng đến căng thẳng.

Viên đại thần tâu lúc đầu, giọng khinh khỉnh:

Tâu Hoàng thượng! Thần xem cách ăn nói của Bùi nữ tướng có vẻ tự đắc và hàm hồ vậy đấy!

Bùi Thị Xuân xoay người, nhìn thẳng vào mặt tên quan rồi ngước lên nhà vua:

Thần thiếp xin Hoàng thượng hãy truyền hịch động binh, với lính các trấn về hợp sức tiến vào Phú Xuân quyết chiến với giặc. Để chắc thắng, Hoàng thượng nên mật sai người truyền lệnh cho quan thiếu phó và quan Đại Tư đồ cùng đem binh từ Quy Nhơn đánh ra. Bị kẹp giữa hai đạo binh lớn, Nguyễn Ánh và bọn Phú lãng sa có phép tàng hình cũng không thoát chết. Việc khẩn cấp, xin Hoàng thượng quyết đoán một lần.

Lý lẽ sắc bén của Bùi Thị Xuân đã cảm hóa được đa số quan văn võ tướng. Vua Cảnh Thịnh cũng lộ rõ sự thiện cảm đặc biệt đối với viên nữ tướng bỗng dưng có tài hùng biện. Bởi vậy, vua truyền:

Ngay ngày hôm nay, trẫm sẽ truyền hịch phủ dụ dân chúng và điều binh các trấn về hợp sức và chờ ngày xuất quân đánh giặc. Trẫm cũng kíp phái lính cảm tử đem mật chiếu báo cho đạo quân ở Quy Nhơn biết mà phôi hợp đánh về. Các khanh hãy vì trẫm dẹp mối hiềm khích, dốc lòng dốc sức cho việc lớn mau thành. Được như vậy cũng là phúc lành cho dân vậy.

Nói rồi vua Cảnh Thịnh truyền lệnh bãi triều.

Cũng từ sau buổi thiết đại triều ấy, lần đầu tiên Bùi Thị Xuân được vua Cảnh Thịnh trọng dụng, giao cho nắm giữ binh quyền như một đại tướng. Vua lưu Bùi Thị Xuân ở ngay trong cung để tiện bàn bạc. Và đầu mùa đông năm ấy, một kế đánh quy mô thu hút hơn ba vạn quân thủy bộ đã được Bùi Thị Xuân phác họa, vua Cảnh Thịnh chuẩn y. Đạo quân ấy do Bùi Thị Xuân làm tướng tiên phong, vua Cảnh Thịnh thân đốc suất quân trung. Đạo quân này đánh thẳng vào quân bản bộ của Nguyễn Ánh ở lũy Trấn Ninh. Đạo quân thủy bộ do Đại Đô Đốc Nguyễn Thận thống lĩnh sẽ đem chiến thuyền đánh thủy quân giặc ở Sông Gianh. Hai đạo quân ấy rời Thăng Long đầu tháng một năm 1801.

Được bọn đạo trưởng Phú lãng sa, ở Bắc Hà thông báo kịp thời mọi hành động của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh vội chiếm lĩnh Trấn Ninh và điều đến lũy một đạo quân còn đông hơn quân Tây Sơn. Vốn là người có kinh nghiệm cầm quân. Ánh để Đặng Trần Thường trấn giữ mặt Tây, Nguyễn Văn Thành giữ mặt giữa, còn đích thân Ánh thống lĩnh đại binh giữ mỏm xung yếu nhất ở Trấn Ninh. Hơn một nghìn lính Phú lãng sa tăng cường cho đạo quân của Ánh. Trên sông Gianh ken đặc thuyền chiến và tàu đồng, tướng giặc giỏi thủy trận Tường Quang hầu đích thân đốc suất. Quân Ánh chẳng những không bị bất ngờ mà còn sẵn sàng giáp chiến với quân Tây Sơn.

Sáng ấy, khi Ánh cùng đám vệ sĩ lên ngựa đi lại đầu lũy thì trời đã sáng rõ. Ánh dừng lại bên một khẩu thần công, căng mắt mà quan sát phía trước. Ánh bỗng kêu lên.

Quân Tây Sơn.

Nghe tiếng kêu của Ánh lại thấy quân Tây Sơn trùng trùng điệp điệp kéo tới, một võ sĩ của Ánh hốt hoảng đánh rơi kiếm.

Quay nhìn thấy tên võ sĩ, Ánh rít gọng hỏi:

- Ngươi sợ phải không?

- Tâu chúa thượng!...

Tên võ sĩ chưa nói hết câu, Ánh đã vung kiếm chém đứt đầu. Đạp vào cái xác đầm đìa máu. Ánh điềm tĩnh, mặt lạnh như tiền quay lên nhìn. Quân Tây Sơn đã tản ra dàn hàng ngang đông đặc ven đồng. Mấy chục khẩu thần công chĩa nòng lên lũy cũng đang thận trọng tiến lên.

Cụm quân Phú lãng sa bỗng nhốn nháo. Những tên hăng máu xì xồ chỉ trỏ. Bọn chỉ huy đã phải dùng đến súng, cùi tay để giữ kỷ luật. Ánh bắn pháo hiệu rồi nhìn khắp một lượt từng dãy quân sĩ của hắn đã ken đặc trên từng bậc lũy.

Bên quân Tây Sơn, trận địa cũng đã được phân rõ. Vua Cảnh Thịnh đốc suất gần hai vạn quân men theo cánh đồng, đánh vào giữa lũy. Bùi Thị Xuân thống lĩnh một vạn quân đánh vào mặt lũy kiên cố nhất, giáp làng Trấn Ninh, nơi Nguyễn Ánh đang trấn giữ. Nguyễn Ánh ra lệnh cho mấy chục khẩu thần công bắn thị uy khi thấy viên nữ tướng Tây Sơn cưỡi voi trận dẫn đầu dòng thác quân Tây Sơn đang ào ào tiến về phía hắn. Đạn quân Ánh rơi xuống trước quân Tây Sơn. Đất đá rung lên rào rào. Trên bành voi chiến, Bùi Thị Xuân tuốt kiếm chỉ lên mặt lũy. Cờ lệnh quân Tây Sơn chúc hẳn xuống. Quân Tây Sơn theo sau voi chiến của chủ tướng, lớp lớp xông lên.

Các ngươi Ánh thét giật giọng Ai bắn chết nữ tặc tướng, ta thưởng công đầu. Thần công, điểm hỏa!

Hàng chục phát đạn xé không khí lao vút vào đội hình quân Tây Sơn.

Bên Tây Sơn, theo lệnh Bùi Thị Xuân, mấy chục khẩu thần công căng hàng nhích lên. Đằng sau dãy súng, bộ binh Tây Sơn, áo và khăn đầu đỏ rực, binh khí tua tủa, đông như kiến cỏ cũng thận trọng tiến lên theo.

Quãng cách giữa hai đội quân càng ngắn lại. Một loạt thần công của Nguyễn Ánh khạc lửa, quét ngang một vệt trước đầu voi Bùi Thị Xuân. Trong khói súng mịt mờ tiếng Bùi Thị Xuân lanh lảnh:

Thần công phát hỏa!

Tường lũy quân Ánh rung lên trong cơn bão lửa. Nhiều chỗ rào bị phá, những cọc thông bị giập nát. Dứt tiếng súng quân Tây Sơn ào ạt xông lên.

Súng Nguyễn Ánh không kịp chỉnh lên làn đạn qua đầu các xạ thủ Tây Sơn. Được dịp các cỗ súng Tây Sơn tiến gần đến chân lũy. Súng hai bên thi nhau nổ. Trong khói súng mờ mịt, Bùi Thị Xuân chợt thấy hai đoạn lũy đã bị phá vỡ. Bùi Thị Xuân vội nổ pháo hiệu: Lập tức các nam nữ binh sĩ Tây Sơn, tay cầm mộc che thân, tay cầm hỏa hổ đã châm lửa, hoặc cầm giáo dài lớp lớp xông lên. Một cơn mưa đá dội xuống. Các khẩu thần công của Ánh cũng chúc nòng gầm thét. Phút chốc hàng ngũ quân Tây Sơn nghiêng ngả. Nhưng theo gót chủ tướng, quân Tây Sơn lại ùn ùn xông lên. Ở hai khoảng lũy vỡ, hàng loạt quân giặc cố sức vác gỗ chèn lại đã bị chết trước mũi giáo quân Tây Sơn.

Quân Tây Sơn giẫm lên xác giặc Ánh, trèo qua những thân gỗ, nhảy lên mặt lũy đông như bầy chim sẻ, một cuộc ác chiến khủng khiếp diễn ra trên lũy. Giặc Ánh không chịu nổi hỏa hổ của quân Tây Sơn phải lùi dần. Lính Phú lãng sa bị bỏng, bỏ cả vũ khí, giống lên như bò bị chọc tiết. Những bó đuốc của quân Tây Sơn được chuyển tay đưa lên mặt lũy. Rồi, rừng thang bay về tường lũy, chọc thẳng lên phía pháo đài của quân giặc. Doanh trại giặc bốc cháy ngùn ngụt.

Ở đấy, xác binh sĩ giặc Ánh và xác binh sĩ Tây Sơn nằm đè lên nhau quằn quại, Trận địa náo động, tiếng rên la, gào thét, tiếng súng nổ, tiếng gươm khua, náo động rung trời chuyển đất cùng tiếng reo hò của hàng vạn binh sĩ Tây Sơn. Trước cảnh hỗn chiến, Bùi Thị Xuân xuống voi, cầm kiếm vượt lên lũy tiếp sức quân sĩ. Một tên Phú lãng sa to như hộ pháp, chưa kịp nổ súng, đã bị Bùi Thị Xuân đưa một lưỡi kiếm bén ngọt vào bụng.

Thần công của giặc Ánh đã câm bặt. Quân Tây Sơn đã chiếm được một đoạn lũy dài và đang đánh dồn binh lính Ngyễn Ánh chạy giạt ra. Vừa lúc ấy, giữa lũy binh lính của Ánh bỗng dồn lại như thác lũ. Bùi Thị Xuân lo lắng nghĩ thầm: Trận địa của vua Cảnh Thịnh vỡ rồi chăng? Chỉ một lúc sau, cánh quân Bùi Thị Xuân đã bị đánh bật trở lại. Trên mặt lũy, máu quân Tây Sơn và máu quân Ánh nhuộm thấm cả đất, ngấm xuống cả tường lũy.

Thấy vậy, Bùi Thị Xuân đành ra lệnh cho quân mình vừa đánh vừa chuyển các thương binh ra ngoài. Dân chúng ở Trấn Ninh và các vùng lân cận túc trực ở đó, đã vây quanh các thương binh Tây Sơn với những chậu nước pha muối, giẻ lau, băng phèn chua, . Họ hiểu như thế nào thì liền chữa thương như thế ấy.

Trận địa dần dần im lặng. Bùi Thị Xuân nghe nghèn nghẹn ở cổ, nước mắt muốn trào ra. Hồi hộp nhìn sang trận địa vua Cảnh Thịnh, Bùi Thị Xuân kinh hoàng thấy ở đó không còn một bóng người.

Một nữ binh phóng ngựa chạy lại, hốt hoảng:

- Thưa chủ tướng! Vua Cảnh Thịnh đã cho lui quân từ lâu rồi.

- Trời ơi! Bùi Thị Xuân kêu lên thất vọng, sắc mặt đỏ gay vì nắng và mệt. Bùi Thị Xuân trao quyền cho phó tướng vội vã lên yên ngựa. Sau khi vượt qua bao nhiêu binh sĩ, Bùi Thị Xuân mới nhìn thấy vua Cảnh Thịnh, chiến bào sạm khói súng ở phía trước.

- Xin hoàng thượng dừng lại. Bùi Thị Xuân gò mình trên lưng ngựa, gọi to.

Vua Cảnh Thịnh ngoảnh lại mặc dù nhìn thấy Bùi Thị Xuân nhưng vẫn cho ngựa phi nước đều.

Hoàng thượng dừng lại, thần thiếp xin tâu bày. Cuối cùng Bùi Thị Xuân đã đuổi kịp, níu lấy áo bào của vua, van vỉ.

Cảnh Thịnh buộc phải dừng ngựa, nhưng lộ rõ sự khó chịu:

- Đánh đến nửa ngày không thắng thì phải lui quân. Vả, lũy lại kiên cố, giặc biết trước đã phòng bị chu đáo.

- Tâu Hoàng thượng Bùi Thị Xuân đã xuống ngựa, quỳ xuống trận đánh chưa phân thắng bại. Hơn thua ăn nhau ở bên nào đánh liều mình cự chiến ngay phút chót. Vả, quân của thần thiếp đã vượt lên mặt lũy, Hoàng thượng nỡ lòng nào vội thối chí, sớm lui quân!

- Ta sẽ về Thăng Long huy động đại binh mã. Nguyễn Ánh sẽ phải bỏ xác ở đó.

- Muôn tâu Hoàng thượng Bùi Thị Xuân nức nở nếu vậy cơ đồ nhà Tây Sơn hỏng thật sao? Không chặn được giặc ở đây, lòng quân sẽ nản, giữ sao được Thăng Long?

- Binh sĩ không còn lòng dạ nào đánh nữa. Khanh thấy rồi đó.

Bùi Thị Xuân lại quỳ xuống, hai tay dâng kiếm:

Khi trước tiền nhân nói: Nếu bệ hạ muốn hàng trước thì xin chém đầu thần đi đã. Nay, thế trận chưa ngã ngũ, quân sĩ vẫn một lòng quyết chiến. Vậy nếu Hoàng thượng muốn lui quân xin cũng chém đầu thần thiếp đi.

Cảm động trước tấm lòng sắt đá của đấng trung thần, vua Cảnh Thịnh đành quay ngựa trở lại chiến lũy.

Nhưng đến chiều ông vua bạc nhược ấy lại đơn độc rút lui lần nữa. Bởi thế, lần thứ hai thế trận quân Nguyễn bị vỡ, cánh quân của Bùi Thị Xuân đã vượt được lên mặt lũy, lại bị đánh bật trở lại.

Trong cơn giận giữ xen lẫn đau xót đến tột độ, Bùi Thị Xuân muốn đuổi theo vua để hỏi cho ra lẽ. Nhưng mệt mỏi chán chường sau cả ngày xung trận, lại lạc voi chiến, nữ tướng lên ngựa đi chặn hậu cho quân mình rút về Nghệ An.

Những người hiểu được chí lớn và lòng sắt son của Bùi Thị Xuân, viên nữ tướng xuất chúng của triều Tây Sơn, nhân vật được truyền tụng trong dân gian về mức độ tài ba và lòng dũng cảm không thể không nhớ lại những sự kiện xảy ra sau đó:

Vua Cảnh Thịnh chạy ra Thăng Long, nhận được sớ của Bùi Thị Xuân, nhưng không huy động binh mã vào Nghệ An hợp sức với nữ tướng chống giặc, mà lại nghe bọn đại thần ngu xuẩn, tham sống sợ chết, bày trận ở Thăng Long chờ giặc đến.

Cùng lúc ấy, ở Quy Nhơn, sau nhiều ngày bị vây hãm, giặc hết lương, lâm vào nạn đói, phải đầu hàng quan thiếu phó Trần Quang Diệu. Trần Quang Diệu tức tốc đem binh về đánh Phú Xuân. Nhưng không đề phòng nên vừa ra khỏi Quy Nhơn thì bị giặc chặn đánh. Diệu thua phải lần đường về Nghệ An. Bùi Thị Xuân hay tin, đem cánh quân nhỏ đi đón chồng. Trên đường trở về, giặc dùng mưu giả dân thường đem dân thường ra úy lạo và bắt sống Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và cả đứa con gái nhỏ.

Mất hai tướng trụ cột của Triều đình, Cảnh Thịnh hết người đối địch với Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh sau khi lấy được Bắc Hà, đắc ý lên ngôi hoàng đế đem quân về Phú Xuân, mang theo cả những chiếc cũi đỏ, nhốt vợ chồng Bùi Thị Xuân và đứa con gái nhỏ chờ ngày hành hình để thị uy dân chúng.

Suốt dọc đường từ cửa Nam tới pháp trường, nơi hành hình các tướng Tây Sơn, như bố cáo của đề đốc kinh thành dán la liệt ở những trốn đông người cho hay lính canh đứng ken thành một hành rào dày đặc. Con đường dẫn tội nhân đi hành hình và cũng là con đường vua Gia Long Nguyễn Ánh ngự ra pháp trường này, cấm chỉ dân chúng qua lại. Xung quanh pháp trường, việc canh phòng càng cẩn mật bội phần. Đề đốc kinh thành đã chiếu binh thư, bày một trận "Bát quái", ngay trên pháp trường.

Các cơ đội vệ binh, vòng trong vòng ngoài, quây tròn lấy bãi hành hình tội nhân, binh khí tua tủa, đến một con chuột chạy qua cũng không lọt. Các viên đội trưởng, trưởng cơ trấn giữ các cửa trận, xem xét việc vào ra pháp trường. Dân chúng qua lại đều phải im lặng, cúi đầu. Người nào có dáng điệu khả nghi, lập tức bị bắt giữ ngay.

Gian nhà rạp lọt vào chính giữa trận bát quái. Dãy cờ đại bái, đủ các màu sắc lòe loẹt rủ lá, chết đứng xung quanh rạp. Mọi sự sắp đặt ở đó, hoàn toàn theo ý muốn của Nguyễn Ánh và đã được Đề đốc kinh thành đôn đốc lính vệ binh cùng dân phu làm.

Ngay từ sáng sớm, pháp trường đã đông nghịt người. Dân chúng tụ tập quanh pháp trường, nét mặt lo lắng, nhìn đăm đăm vào nơi hành hình tội nhân.

Khi Nguyễn Ánh và bầy quan lại tùy tùng lục tục kéo vào gian nhà rạp giữa pháp trường thì đã tới giờ Tỵ. Một cảnh ồn ào, náo động diễn ra trong đám dân chúng. Trước nhà rạp, loa thét giật giọng. Quân lính vung binh khí hăm dọa, dồn ép khối người quanh pháp trường phải ngồi xuống. Bởi vì, dân chúng đã thấy từ sau nhà rạp, một toán lýnnh cấm vệ xúm xít vây quanh ba chiếc cũi lớn, đang được khiêng ra giữa pháp trường.

Tiếng loa lối nhau truyền đi những câu xướng họa đứt quãng. Bài chiếu của Nguyễn Ánh chỉ nghe thấy câu được câu chăng:

"Vì chín đời mà trả thù... Chợt nửa chừng gặp lúc gian truân, để ngoan dân gây nên biến loạn... Giống giặc bắt xong, tội nhân được hết... Yết tế thái miếu, làm lễ hiến phù... Phanh xác tán sương, để trả thù cho miếu xã, rửa hận cho thần nhân... "

Nhưng không mấy ai chú ý nghe. Mọi cặp mắt đổ dồn vào mấy chiếc cũi đỏ. Dân chúng nhận ra vợ chồng Bùi Thị Xuân và đứa con gái nhỏ. Chính là để được nhìn lại lần nữa những vị tướng hằng được ngưỡng mộ mà dân chúng lớp lớp kéo đến đây.

Bùi Thị Xuân được tháo cùm. Nhìn chiếc cũi nhốt đứa con gái được đưa đến gần cây cột có dây thòng lọng và bức tường đá hộc, Bùi Thị Xuân hiểu được ngay mưu độc của Nguyễn Ánh. Nữ tướng đau xót nhìn con. Cô bé xanh rớt, ngồi tựa vào chiếc cũi, dáng mệt mỏi. Những tháng ngày bị đày đọa trong nhà tù của giặc Ánh đã cướp đi vẻ hồn nhiên, kháu khỉnh của cô bé. Con đang nghĩ gì? Bùi Thị Xuân tự hỏi Con có biết giặc sắp đem giết hại cả tía, má và con không? Giặc sẽ giết con như thế nào? Bùi Thị Xuân đau đớn như đứt từng khúc ruột.

Chợt cô bé dướn người, áp mặt vào cũi, đảo cặp mắt to đen rất giống mẹ nhìn khắp bốn phía. Mắt cô bé bừng sáng khi nhìn thấy mẹ. Mắt cô chớp chớp. Đôi môi đỏ mấp máy. Cô muốn gọi mẹ nhưng nghĩ thế nào, lại đưa tay lên, vuốt lên ngực. Hiểu được cử chỉ nén lòng để khỏi bật khóc ấy của con, Bùi Thị Xuân thấy mủi lòng. Con ngoan của má, Bùi Thị Xuân thầm gọi, mắt không rời khuôn mặt yêu thương của con, con dũng cảm lắm. Má tự hào về con đó.

Một bọn đao phủ mặt mày hung tợn tiến vào pháp trường. Quan Thiếu Phó Trần Quang Diệu được tháo cùm. Nhìn thấy chồng chỉ còn da bọc xương. Lòng Bùi Thị Xuân thổn thức, mắt cay xè. Chao ơi! Còn đâu vóc dáng vạm vỡ, vẻ đẹp võ tướng của chồng thương yêu từng vào sinh ra tử có nhau, từng gắn bó bao nhiêu kỷ niệm yêu thương sâu sắc từ buổi lấy nhau.

Vị tướng tài của hoàng đế Quang Trung xưa, vị võ quan trụ cột của triều đình Cảnh Thịnh với bao nhiêu chiến công hiển hách, khiến giặc nghe uy danh đã khiếp hãi. Con người vừa năm trước còn tung hoành ở Quy Nhơn, diệt tan hai vạn quân Ánh, bắt sống tướng giặc, đã tiều tuỵ đến vậy sao? Bùi Thị Xuân căng mắt nhìn chồng như muốn ghi khắc lại hình ảnh yêu dấu của chồng lần cuối. Nhìn dáng chồng ngồi vững vàng, mắt ánh lên những tia sáng giận dữ khi bọn đao phủ tiến đến, Bùi Thị Xuân yên lòng.

Tiếng loa truyền đọc chiếu chỉ vẫn đơn điệu câu được, câu chăng. Rồi nhận được hiệu lệnh của Đề đốc kinh thành, bọn đao phủ đã dùng búa phá chiếc cũi nhốt Trần Quang Diệu, giặc sẽ giết chồng ta, con ta! Bùi Thị Xuân cồn cào lo lắng và căm giận. Tướng công hãy chết cho ra chết Bùi Thị Xuân thì thầm nói với chồng. Và, bên mỗi căm giận, Bùi Thị Xuân bỗng cảm thấy một niềm an ủi nho nhỏ. Ta sẽ được chết cùng với người chồng chung thủy và đứa con thân yêu của mình. Lòng đã nhủ, Bùi Thị Xuân thấy thanh thản lạ.

Dân chúng bỗng ồn ào. Bùi Thị Xuân quay về phía sau: Binh lính Phú lãng sa mặc lễ phục, hàng ngũ chỉnh tề kéo về pháp trường. Chúng dàn hàng trước gian nhà rạp của Ánh. Nhiều tiếng bình phẩm nổi lên trong đám đông dân chúng. Họ thấy rõ chân tướng của Nguyễn Ánh: Chỉ để giết các tướng tài Tây Sơn, Gia Long Nguyễn Ánh phải mượn cả binh lính Phú lãng sa vào bảo vệ mình.

Sau phút ồn ào, dân chúng lại đổ dồn sự chú ý vào các tướng Tây Sơn. Bùi Thị Xuân xoay khắp phía, đón lấy cái nhìn trìu mến của dân chúng. Nữ tướng thầm hỏi: Sao có nhiều nét mặt quen thuộc, thân thiết đến thế. Nét mặt Xuân phai chết cho mặt anh hùng, lẫm liệt. Từ đáy lòng nữ tướng thấy một niềm yêu thương mênh mông, dạt dào dâng lên mạnh mẽ. Phải chi vua Quang Trung chưa khuất? Con người áo vải dựng cờ đào làm lên sự nghiệp lớn lao ấy sẽ đưa muôn dân đến con đường ấm no, sung sướng.

Quang Trung hoàng đế còn sống thì sự thể sẽ khác đi bao nhiêu. Lũ tiểu nhân đắc chí Nguyễn Ánh kia chắc chắn sẽ chẳng còn mảnh đất dung thân. Tiếc thay hổ phụ mà chẳng sanh hổ tử. Nối ngôi cha mà chẳng được chí cha nên nước dẫn tới cảnh bi đát này. Bùi Thị Xuân lại nhìn khắp lượt dân chúng. Trong niềm yêu thương rộng lớn, nữ tướng thèm muốn được chạy xổ lại ôm lấy đứa con nhỏ lần cuối, được nhìn lại gương mặt yêu thương của người chồng chung thủy, đồng thời là bạn chiến đấu cang trường và ngồi giữa khối dân trung thành với nhà Tây Sơn đang tụ tập kín cả tháp trường kia.

Tiếng loa truyền đọc chiếu chỉ đã dứt lúc nào chẳng ai hay. Mấy tên đao phủ to lớn xúm lại chiếc cũi thứ nhất. Quan Thiếu Phó Trần Quang Diệu đã bị dẫn ra đầu tiên.

Pháp trường lặng ngắt. Dân chúng nín thở. Quan Thiếu Phó mặc dù bệnh hoạn và sự đày đọa của giặc Ánh đã cướp đi hầu tận sức lực, nhưng ai lấy đều ngạc nhiên khi thấy vị tướng trí dũng vô song của Triều Tây Sơn đã đẩy hai tên đao phủ định dìu mình đến bên cây cọc được chôn từ trước. Đao phủ tung dây để trói. Nhưng vị tướng tài Tây Sơn khoát tay ra hiệu không cần và tự cong người ra cho chém. Bọn đao phủ sau phút lúng túng, liền vung đao trảm quyết ngay.

Dân chúng xôi động ầm ầm. Chứng kiến cái chết của chồng, Bùi Thị Xuân đau đớn. Nhưng ngay sau đó, một nét cười thoáng nở trên môi nữ tướng. Bởi vì cho đến lúc chết, Trần Quang Diệu vẫn giữ được khí tiết của tướng Tây Sơn.

Bọn đao phủ mở chiếc cũi thứ hai. Đứa con nhỏ của Bùi Thị Xuân chưa kịp định thần đã bị một tên đao phủ túm lấy, nhấc bổng đến cây cột trồng cạnh bức tường đá hộc. Cô bé giãy giụa, vung nắm tay bé nhỏ đấm vào mặt tên đao phủ. Vừa đến bên chiếc cột trồng cạnh tường đá hộc, bắt chước cha, cô bé hiên ngang cong người chờ chém ngang lưng. Nhưng bọn đao phủ không diễn lại cảnh vung gươm trảm quyết. Hai tên đao phủ xông đến túm lấy cô bé. Rất nhanh và thuần thục, cô bé bị chúng buộc ngay vào dây dòng thẳng từ đỉnh cột tới lưng chừng đất, lủng lẳng, đu đưa, vẻ mặt căm giận đau đớn.

Dân chúng quanh pháp trường cảnh ấy chợt hiểu. Cả rừng người bỗng nhiên nhốn nháo trong một cơn bất bình khủng khiếp. Thế trận bát quái của viên đề đốc kinh thành lại một phen chuyển động. Roi, gậy và binh khí lăm lăm dồn dân vào cảnh im lặng. Hiểu nỗi nguy khốn của con, Bùi Thị Xuân nuốt từng nỗi đau vào tim; bàn tay bóp chiếc cũi tê dại, sắp bật máu. Đột nhiên từ gian nhà rạp, một tên nội giám cầm tờ tiết mao chạy thẳng đến toán lính cấm vệ đứng xúm xít quanh mấy chiếc cũi: Lệnh Nguyễn Ánh truyền cho khiêng chiếc cũi nhốt người mẹ lại gần hơn nữa đứa con gái sắp bị hành hình. Ánh trả thù Bùi Thị Xuân vì mấy lần giáp chiến bị thua.

Hạ xong mệnh lệnh độc ác ấy, Nguyễn Ánh ngả người trên chiếc ghế trạm rồng trong gian nhà rạp, vẻ mặt lạnh lùng thản nhiên, nhưng đôi mắt lấp lánh những tia sáng man rợ. Ánh tập trung theo dõi mệnh lệnh của mình đang được thi hành. Khi ấy chiếc cũi của Bùi Thị Xuân đã được đặt gần chiếc cột buộc đứa con nhỏ, Ánh nhấc tay, sẽ vậy về phía trước. Đề đốc kinh thành rình đón những cử chỉ của Ánh thấy hiệu lệnh, bước ra ngoài.

- Con không khóc đâu má ạ! Con sẽ bắt chước tía.

- Con ngoan lắm! Con gan góc lắm! Bùi Thị Xuân cắn chặt môi đến bật máu, đáp lại.

Con bé vụng về đưa tay cố với sợi dây thòng lòng buộc quá chặt ở ngang người:

Bọn ác trói con đau quá má à.


Bùi Thị Xuân kìm nỗi nghẹn ngào, vỗ về:

Con gắng chịu đau, con ngoan của má.

Tiếng loa bỗng nổi lên. Nghe hiệu lệnh ấy, tên đao phủ đứng cạnh cây cột, nhanh như cắt, nắm lấy sợi dây buộc cô gái nhỏ, kéo cề phía sau lấy đà rồi nhằm vào bức tường đá hộc trước mặt, vung tay lăng mạnh.

Tiếng kêu nổi lên khắp pháp trường. Dân chúng phận nộ lao về phía trước như muốn túm lấy tên đao phủ khi thấy hắn lại vồ sợi dây vừa bật ra.

Nhìn xác con phút chốc bị giập nát, đầm đìa máu, Bùi Thị Xuân nghiến chặt răng để khỏi bật kêu thành tiếng.

Phút kinh hoàng nhanh chóng trôi qua. Trong nổi đau rỉ máu, trong sự hờn căm ngút trời, Bùi Thị Xuân bỗng thấy tự hào chưa từng có, chưa hề trải qua: Chồng và con đã chết thật gan góc. Cái chết thảm thê mà khí phách, cái chết làm rạng danh triều Tây Sơn, làm đẹp lòng người nghèo.

Trong gian nhà rạp, Nguyễn Ánh vẫn ngã người trên chiếc ghế chạm rồng chăm chú thưởng thức cách hành hình của mình. Ánh không trông thấy bọc do thám đội lớp đạo trưởng Phú lãng sa luôn tay làm dấu, miệng lẩm nhẩm đọc kinh.

Ánh lại nhấc tay ra hiệu. Bốn tên đao phủ hấp tấp tháo chiếc cũi cuối cùng, lôi xốc viên nữ tướng Tây Sơn ra ngoài. Bùi Thị Xuân vẫn còn nghiến chặt răng, nét mặt rắn đanh lại. Nữ tướng không làm dữ khi bọn đao phủ bắt đầu giằng xé, lột sống áo mình. Hơn thế, một vẻ đắc ý còn thoáng ra trên khuôn mặt bừng bừng giận dữ. Và, dân chúng khắp pháp trường đang ngây người trong cơn kích động vì những cảnh hành hình dữ dội, bỗng như bừng tỉnh lại, ồn ào, náo động.

Họ vừa thấy Bùi Thị Xuân khắp người đỏ rực màu lụa thắm, hiện lên như tướng nhà trời. Lũ đao phủ bỗng thấy lúng túng, luống cuống tìm cách gỡ những vuông lụa đỏ, thì từ phía sau nhà rạp, con voi trận độc ngà khổng lồ, được luyện để dùng vào việc hành hình tội nhân đã xồng xộc chạy tới gần, cong vòi, chìa ngà đón đợi. Nhìn đà chạy của voi dữ, bọn đao phủ vội vã hò nhau tung bổ miếng mồi đỏ rực về phía trước.

Những tiếng kêu hốt hoảng bật lên trong đám người quanh pháp trường. Nhưng dù tay còn bị trói, chỉ thế uốn người nhẹ nhàng, Bùi Thị Xuân đã tránh được chiếc vòi của voi dữ, bật người lộn một vòng, đứng vững chải trên thảm cỏ. Cả pháp trường lại ầm ầm chuyển động. Các cơ, đội vệ binh trấn giữ pháp trường đã phải dùng đến gươm giáo để giữ thế trận bát quái đang chực vỡ.

Trong gian nhà rạp, Nguyễn Ánh cũng bật dậy, chồm về phía trước.

Ngay lúc ấy, Búi Thị Xuân chỉ tay về phía Nguyễn Ánh thét lớn:

- Tên Nguyễn Ánh, quân rước voi giày mồ kia! Ta bảo cho ngươi biết, nhờ người Phú lãng sa, ngươi có thể giết được ta. Nhưng ngàn đời, người cũng không xóa được cơ nghiệp của hoàng đế Quang Trung. Hỡi quân bán nước cầu vinh, đời đời nhân dân sẽ phỉ nhổ chúng bay.

Sau phút im lặng, nghe Bùi Thị Xuân nói, dân chúng quanh pháp trường bỗng dậy lên tiếng ồn ào như sấm động. Ai nấy hứng chí xuýt xoa, xô động ầm ầm. Trong lúc đó, Nguyễn Ánh bị làm nhục, lặng người, ngạc nhiên, miệng há hốc. Đề đốc kinh thành hoảng hốt kề lấy loa, thét lạc cả giọng:

Quản tượng! Mau hành hình!

Viên quản tượng vắt vẻo trên đầu voi vừa hụt mồi, nghe loa giục, luống cuống thúc con vật khổng lồ quay lại tìm mồi. Con vât ngoắt lại, tung vòi. Bùi Thị Xuân hả dạ nhìn cảnh hổn loạn của quan quân Nguyễn Ánh, vẫn đứng ngã người giữa bãi, bình tĩnh như không. Đột nhiên, chiếc vòi khổng lồ của con voi đang lao về phía Bùi Thị Xuân ngừng phắt lại quờ quạng rồi uốn cong lên trời.

Con voi rùng mình, rống lên tiếng dữ dội rồi khuỵu hai chân, quỳ phủ nhục trước mặt nữ tướng Tây Sơn Bùi Thị Xuân, sau giây lát ngạt nhiên, bỗng sáng bừng nét mặt. Nữ tướng đã nhận ra con voi độc ngà của mình bị lạc từ trận Trấn Ninh. Phải, không ngờ con voi khét tiếng dữ tợn nhưng lại rất mực tinh khôn, nhớ chủ, lại được Nguyễn Ánh lầm chọn vào việc hành hình này.

Không kìm được nỗi xúc động bất ngờ, Bùi Thị Xuân chạy xô lại phía con voi, mỉm cười, vuốt ve nó.

Cảnh náo loạn đã lên đến tột đỉnh. Dân chúng chứng kiến cảnh ấy, từ chỗ kinh ngạc chuyển sang cảm động thực sự. Lũ quan quân Nguyễn Ánh càng nhốn nháo, cuống cuồng. Trong gian nhà rạp, Nguyễn Ánh mặt đỏ bừng vì giận dữ, rũ áo đứng dậy, lồng lộng nghiến răng kèn kẹt.

Viên đạo trưởng đứng sau Ánh, lắp bắp:

Bệ hạ! Xin bệ hạ cho thay voi! Xin cho voi xé xác nữ tặc như xé xác Cảnh Thịnh.

Lời tâu ấy khác nào như lửa đổ thêm dầu, khiến cơn giận của Nguyễn Ánh nổ bùng ra. Ánh muốn gia binh thảm khốc Bùi Thị Xuân để trả thù và răn đe dân chúng. Nhưng Bùi Thị Xuân chẳng những không chết thảm mà lại giữ oai phong lẫm liệt. Chính Ánh không thể hiểu nổi đàn bà như Bùi Thị Xuân, bị đẩy ra pháp trường, giữ cái chết thảm khốc kề bên, lại giữ được sĩ khí, tiết tháo và oanh liệt đến thế. Ánh đâu ngờ pháp trường của Ánh lại là nơi để "Nữ tặc" tỏ rõ khí phánh của mình. Còn dân chúng, Ánh đã tận mặt nhìn thấy vẻ bất kính của họ đối với quan quân và nỗi xúc động, thiện cảm của họ đối với Bùi Thị Xuân. Bởi vậy, khi nghe tên đạo trưởng lảm nhảm bên tai, nỗi giận dữ trong Ánh dâng lên ngùn ngụt, Ánh quên cả giữ gìn tư cách đấng thiên tử:

Các ngươi đã làm nhục ta Ánh gầm lên theo lệnh ta, lâp tức bắt Đề dốc kinh thành hạ ngục vì tội cầm trong binh mà không giết nỗi một mụ đàn bà. Và, thôi không dùng voi nữa, bắt nữ tặc phải chết thiêu.

Lệnh Ánh được thi hành ngay. Viên Đô đốc kinh thành lập tức bị quân cấm vệ lôi từ trên mình ngựa xuống, trói gô lại.

Từ sau gian nhà rạp, một mồi lửa tẩm dầu đã được đưa ra giữa pháp trường. Nhưng dân chúng kinh thành không đợi đến hết buổi hành hình, đã kéo ùa khỏi trận bát quái ra về. Họ vô cùng cảm kích trước hành động anh dũng tuyệt vời của Bùi Thị Xuân, hởi lòng hởi dạ đuợc chứng kiến giây phút cuối cùng, tràn đầy khí phách của nữ tướng Tây Sơn ngay trước mặt Ánh và cả ngàn vạn quân hắn.

Hết.