PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Ngô Quyền



ptvinhvl
16-09-2009, 11:25 AM
Sáu năm thoát khỏi ách đô hộ của bọn thống trị Nam Hán, trên dải đất châu Ái, từø ly sở cho đến các trang ấp xa xôi, cuộc sống đang ngày một đổi mới. Riêng ở đây, trên một vùng đất rộng rãi, bằng phẳng và màu mỡ, các ngôi nhà tươi màu ngói mới, những khu nhà mái lá còn sẫm đua nhau mọc lên ngày một nhiều. Hàng ngày nhân dân các miền xuôi ngược tùy ý đi về vùng lỵ sở trù phú trên bến dưới thuyền đông như phiên chợ. Dưới quyền cai quản của thứ sử họ Ngô, nhân dân châu Ái đang sống những ngày yên vui đầm ấm.

Rồi một đêm, có người hối hả phi ngựa tìm về lỵ sở châu Ái báo tin Kiều Công Tiễn đã giết Dương Đình Nghệ, đoạt chức tiết độ sứ!

Suốt mấy ngày đêm liền, trong tư thất của thứ sử họ Ngô, cây đèn dầu hàng chục tim vẫn bốc cháy trước bàn thờ Dương Đình Nghệ. Trong khi đó, tin dữ từ thủ phủ của châu truyền đi khắp vùng xa xôi. Cuộc sống như gấp khúc lại. Người ta lo lắng cho vận mệnh đất nước, đời sống các trang ấp rồi sẽ ra sao? Người ta chờ đợi, và đoán chắc rằng quan thứ sử tin yêu của mình nhất định không bao giờ chịu khoanh tay trước việc làm phản phúc của Kiều Công Tiễn.

Quả có thế.

Đã lâu, gần hai mươi năm trước, ngay từ lúc rời quê hương Đường Lâm theo Dương Đình Nghệ tôn thờ thọ Khúc, Ngô Quyền đã bắt đầu thực hiện giấc mơ cao đẹp của tuổi trẻ là sống một cuộc đời hữu ích cho đất nước cho giống nòi. Rồi quân Nam Hán sang xâm lược, Khúc Thừa Mỹ bị bắt, đất nước rơi vào tay giặc. Ngô Quyền lúc này đã được Đương Đình Nghệ tin yêu, gả con gái cho và trở thành viên tướng tiên phong trong cuộc tấn công vào thành giặc ở Đại La, giết tướng giặc là Trần Bảo, giành lại độc lập cho đất nước.

Dương Đình Nghệ giữ chức tiết độ sứ, Ngô Quyền về cai quản chăm sóc nhân dân Châu Ái. Giờ đây cái chí hướng làm ích nước lợi dân của Ngô Quyền cơ hồ bị đe dọa vì việc làm phản phúc của Kiều Công Tiễn. Sớm hay muộn tai họa cũng sẽ ập đến trên non sông đất nước này. Điều đó đã làm cho Ngô Quyền phải lao tâm khổ trí.

Trong tư thất của quan Thứ sử, Dương Thị Như Ngọc khăn tang kín đầu, phục bên bàn thờ bố. Nhìn chồng con qua nước mắt, bèn nói với Ngô Quyền như trách cứ:

- Bao nhiêu năm sống gần Kiều Công Tiễn, ông không biết bụng dạ của hắn hay sao mà để đến nông nỗi này? Bây giờ bố con ông tính sao để giữ yên cho trăm họ, cho cha tôi dù đã qua đời cũng khỏi phải ôm hận.

Sự thực Ngô Quyền biết rõ Kiều Công Tiễn. Đã nhiều lần ông khuyên bố vợ phải dè chừng và Dương Đình Nghệ đã đưa Kiều Công Tiễn về Châu Phong. Không ngờ hắn còn bạo nghịch đến như thế. Ngô Quyền nói với vợ:

- Việc đã rồi, khóc than cũng không làm giảm được đau đớn. Đến tướng giặc Trần Bảo ta cũng không sợ nữa là Kiều Công Tiễn. Bà còn biết lo nghĩ đến điều đó, huống chi ta.

Sau đó Ngô Quyền ra lệnh cho các tùy tướng rèn luyện quân lính, truyền cho đầu mục các trang ấp phải tích lương chuẩn bị đối phó với Kiều Công Tiễn.

Tin dữ này chưa qua, ít lâu sau tin dữ hơn lại đến. Dương Tam Kha con Dương Đình Nghệ đi tuần vùng biển chạy về báo tin Kiều Công Tiễn đang mưu toan rước quân Nam Hán về để chống lại Ngô Quyền.

Chỉ mấy hôm sau, vào một đêm trung tuần tháng chín, sau khi họp bàn với các bộ tướng, Ngô Quyền truyền lệnh động binh.

Trên tần lầu cao chót vót ngoài tiền đồn của ly sở, chiếc trống chầu khổng lồ gần lê hối hả năm tiếng một. Tiếng trống ngũ liên nặng nền âm vang, rung chuyển cả một vùng rộng lớn. Nối theo, chiêng trống của các trang ấp chuyền nhau vang rền, loan báo tin giặc đi khắp vùng châu Ái.

Trao cuốc cày, để chài lưới cho người ở lại, cắp gươm giáo cung tên đường chống giặc giữ nước vốn đã là chuyện quen thuộc bình thường của cả một dân tộc không bao giờ chịu khuất phục. Đáp lại lệnh động binh của Ngô Quyền, đầu mục các thôn trang thu xếp cho trai tráng lên đường. Trên khắp nẻo dẫn về lỵ sở châu Ái, từng đoàn trai trẻ đổ về theo tiếng gọi chống giặc cứu nước.

Dòng sông Mã chảy êm êm giữa hai bời dâu xanh mơn mởn. Đội thủy quân do Nguyễn Tất Tố chỉ huy đang tập trận. Hàng trăm thuyền chiến lướt trên mặt nước, tụ thành từng khóm rồi lại bung ra chia làm hai ngả, thành một vòng vây khép kín. Tiếng hò reo xen lẫn tiếng gõ dịp dồn dập, tiếng nước vỗ đều đều, làm cho khúc sông không còn giữ được về thanh bình của cảnh sông nước hiền hòa về mùa thu nữa.

Trên đỉnh gò bên bờ sông, Ngô Quyền nhìn đội thuyền chiến đang diễn tập, nói với Xương Ngập đứng bên cạnh:

- Con phải nhắc nhở các trang ấp miền sông biển nộp thêm thuyền chiến. Nước ta đường thủy nhiều, chưa có một đội chiến thuyền hùng mạnh là thiếu hẳn một cánh tay để giữ nước đó.

Nắng hanh vàng chói về chiều đã nhạt dần. Ngô Quyền truyền lệnh gọi Tất Tố trở về.

Từng hồi tù và từ bờ sông rúc lên cao vút, lan trên mặt nước, truyền đi xa. Nguyễn Tất Tố thu quân. Chiếc thuyền chỉ huy rẽ nước cập bến. Nhìn viên tùy tướng có tài sông nước mang khiên giáp đang tiến về phía mình, Ngô Quyền tỏ ý hài lòng, bước đến gần hỏi:

- Đội chiến thuyền của ngươi có thể địch được quân Nam Hán rồi đấy chứ?

Thấy chủ tướng hàng ngày vẫn đặc biệt lưu tâm đến đội thủy quân, hôm nay lại thân ra thị sát buổi luyện quân của mình, Tất Tố cảm thấy tự hào trả lời:

- Thưa, Nam Hán là nước nhỏ, nhưng có một đội quân thủy rất thiện chiến. Tuy vậy, một khi chúng vào đây, các cánh quân thủy bộ của ta khép lại thì lo gì mà không địch nổi.

Ngô Quyền vỗ vào vai Tất Tố:

- Dựa vào chỗ mạnh của chúng, giặc tất theo đường biển tràn vào, vả lại quân Nam Hán sang ta chỉ bằng đường biển là tiện.

Rồi đôi mắt sáng của người chủ tướng soi thẳng vào mặt viên tướng trẻ. Ngô Quyền nói như truyền lệnh:

- Ta sẽ giao cho ngươi chỉ huy đội chiến thuyền. Chúng ta phải đánh tan quân giặc, không cho chúng đặt chân lên đất nước.

Người con trai đất Gia Viên, vốn đã gắn bó với sông nước từ tấm bé, nay tưởng thành lại được giao cho cầm quân cự giặc trên mặt nước, còn gì sung sướng cho bằng. Tất Tố lặng yên, niềm vui sướng hiện rõ trên nét mặt rám nắng của người chỉ huy đội thuyền chiến.

Ngay tối hôm ấy, trong công đường của dinh quan thứ sử, các tướng lĩnh có mặt đông đủ để nghe Ngô Quyền truyền lệnh. Họ là những người từ bốn phương, đã trải qua công cuộc đánh đuổi bọn thống trị Nam Hán năm Tân Mão (931) trong đội quân do Ngô Quyền đích thân điều khiểu. Hình ảnh viên tướng tiên phong ngoài ba mươi tuổi, dáng đi khoan thai vững chãi như hổ bước, có sức khỏe thần kỳ, một khi đã cắp giáo ngồi trên lưng ngựa xông vào quân giặc thì như đi vào chỗ không người, đối với họ mãi mãi là hình ảnh đẹp đẽ và vô cùng khâm phục.

Đã sáu năm rồi, tuy các nếp nhăn trên trán của chủ tướng có hằn sâu hơn, chòm râu có thô và cứng hơn, búi tó sau vành khăn có nhỏ đi và lốm đốm sợi bạc, nhưng đôi mắt long lanh, giọng nói sang sảng, dứt khoát mà đầy tình nghĩa của chủ tướng chưa thay đổi. Đã sáu năm gác gươm đao, lo việc cai quản chăm sóc nhân dân, cái chất tướng lĩnh trong con người Ngô Quyền tưởng như đã thay đổi. Đến bây giờ, trước nạn nước, nó lại được tái hiện rõ nét hơn.

Trước đây chỉ là viên tướng tiên phong trong đại quân của Dương Đình Nghệ, bây giờ Ngô Quyền đã trở thành người thống lĩnh toàn quân để đương đầu với thù trong giặc ngoài. Và chính bản thân từng mười có mặt ở đây cũng đã trở thành người cầm đầu một đoàn quân. Họ đã lớn lao hơn nhiều, cũng lớn lao như sứ mệnh mà giờ đây nhân dân cả nước đang đặt vào tay họ.

Mọi người chờ lệnh của chủ tướng. Ngô Quyền nói chậm rãi:

- Công Tiễn giết Dương tiết độ sứ, làm chuyện thoán nghịch. Tội của hắn trời đất không dung tha. Ta chưa kịp hỏi đến thì Công Tiễn lại mưu rước giặc Nam Hán về giày xéo lên đất nước, chống lại ta, khoác ách đô hộ lên đầu trăm họ. Cái ách đô hộ hàng ngàn năm ấy, cha ông ta đã phải tốn bao nhiêu xương máu mới hất bỏ đi được.

Nền độc lập và tự chủ dân ta mới giành được còn đang trứng nước, nay Công Tiễn lại rước giặc về. Cả dân nước ta ai mà không căm giận. Ta đã giao cho các người luyện quân, tích lương, nay đã đến lúc phải bắt tay vào việc để làm rạng rỡ cho tiền nhân, giữ lấy yên vui đời đời cho con cháu.

Dừng lại một lát, Ngô Quyền nói tiếp:

- Nam Hán là một nước nhỏ; nhân cơ hội suy sụp của nhà Đường, hùng cứ một khoảng đất ở phía đông nam, sớm hay muộn chúng sẽ sang cướp nước ta, mà sẽ tràn bằng đường biển. Không đợi cho chúng vào đất liền liên kết được với Công Tiễn, phải đập nát chúng từ bờ biển. Nếu ở mãi châu Ái này, chúng ta làm sao mà xử sự kịp được.

Hiểu ý của Ngô Quyền, Phạm Bạch Hổ, người cầm đầu đội quân cung nỏ lên tiếng:

- Giặc ở đâu chúng ta đến đấy mà đánh là thượng sách.

Lời bàn của Phạm Bạch Hổ đã làm sáng tỏ ý của Ngô Quyền. Ai nấy đều cho là phải. Xương Ngập, con trai của Ngô Quyền mới mười sáu tuổi cũng có mặt trong buổi gặp mặt, hỏi lại bố:

- Thưa cha, ta đánh xong giặc rồi mới hỏi tội Công Tiễn?

Thấy con trai tuy dũng cảm hăng hái nhưng còn nông cạn, Ngô Quyền trả lời như để nói với mọi người:

- Ta đã nghĩ đến điều đó, sau này sẽ hay.

Trong khi mọi người mải mê bàn bạc thì Dương Thị Như Ngọc đứng nép ngoài cửa chăm chú theo dõi. Không thể dừng được nữa, Như Ngọc đẩy cửa bước vào. Ai nấy đều ngạc nhiên, chỉ có Ngô Quyền vẫn bình thảm mỉm cười nhìn vợ. Như Ngọc nói với mọi người:

- Giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Các người biết cầm quân ra trận, tôi lại không biết đem đội nữ binh của tôi đi cự giặc hay sao?

Ngô Quyền khoát tay:

- Bà không lo, chúng tôi sẽ giao châu Ái này lại cho bà và đội nữ binh gìn giữ. Không cho một tên giặc nào bén mảng đến đây và lo việc cung cấp lương thảo cho chu đáo là đội nữ binh của bà đã góp một phần công sức trong việc đánh thắng giặc rồi đấy.

Mọi người cùng cười. Riêng Như Ngọc xem ra vẫn chưa được hài lòng lắm.

Dải đất mênh mông bên phải hạ lưu sông Cái chạy dài giáp với biển đông như một tiền đồn án ngự mặt đông của đất nước. Viền quanh các trại ấp là những cánh đồng phì nhiêu. Phần đất còn lại hầu hết là rừng rú, đầm lầy nước mặn, xứ xở của sú vẹt. Nước thủy triều từ biển Đông luồn qua sông lạch hàng ngày lên xuống đều đều.

Dẫn đại quân thủy bộ từ châu Ái ra đồn trú tại Lương Xâm trong vùng này để xây dựng căn cứ, Ngô Quyền rất hài lòng vì cái địa bàn thuật lợi mà khuất kín ấy. Ngòi lạch chằng chịt nối đất liền với sống biển sẽ là nơi thủy quân tung hoành thuận tiện. Từ đây trong khoảnh khắc có thể đổ quân ra cửa biển và cũng từ đây vươn tay lên Đại La bằng các đường thủy bộ đều dễ dàng. Sau một thời gian xây đắp căn cứ, lực lượng của Ngô Quyền đã tăng lên gấp bội. Đã đến lúc phải ra tay trừng trị Công Tiễn đễ diệt hẳn mưu toan rước voi giày mồ của hắn.

Trong đại bản doanh của Ngô Quyền ở Lương Xâm, các tướng lĩnh đã tụ tập đông đủ. Phạm Cự Lạng trấn giữ đồn Gia Viên cho biết có bắt được người của Công Tiễn, tra hỏi biết rằng Công Tiễn đã phái người sang Nam Hán cầu cứu. Sự thực thì từ Lương Xâm, Ngô Quyền đã cho người đi dọ thám Đại La và Nam Hán. Động tĩnh của giặc, Ngô Quyền nắm được khá rõ. Giặc đang nhanh chóng sửa soạn chiến thuyền. Phải trở tay cho kịp, không để cho thù trong giặc ngoài hiệp lực lại với nhau được. Ngô Quyền hỏi Tất Tố:

- Ngươi có thể cho một đội chiến thuyền đi Đại La được không?

Tất Tố chưa kịp trả lời thì Phạm Bạch Hổ đã hiến kế:

- Trước hết chúng ta đem quân diệt Công Tiễn, sau đó quay lại đón đánh quân Nam Hán.

Ngô Quyền gật đầu:

- Ta sẽ đến Đại La trước khi giặc Nam Hán vào đây. Với lực lượng của ta hiện nay Công Tiễn không đáng kể.

Ngô Quyền thầm điểm lại lực lượng và ra lệnh:

- Phạm Bạch Hổ sẽ dẫn theo đường bộ, Đào Nhuận điều chiến thuyền theo đường sông Bạch Đằng cùng hẹn ngày tiến về Đại La. Còn Dương Tam Kha, thay ta nắm toàn quyền trong việc hạ Đại La, bắt giết Công Tiễn, trả thù cho Dương tiết độ sứ. Đại quân phải ở đây với ta để đợi giặc...

Chiếc thuyền chiến loại nhỏ, mười hai mái chèo luồn qua lùm cây rậm rạp, lướt trên lạch, lao ra dòng sông cái. Ngoài xa, cửa sông mở rộng liền với mặt biển mênh mông. Sóng biển cuồn cuộn xô nhau trốn vào dòng sông và trở nên dịu hiền hơn ngoài biển cả.

Dòng sông như ngừng lại. Nước đang lên. Đưa chủ tướng ra giữa dòng, chỉ tay về cửa biển, Tất Tố nói với Ngô Quyền:

- Thưa chủ tướng, chắc chắn quân Nam Hán sẽ tràn vào đây theo đường sông mà tiếng về Đại La.

Đứng trên mũi thuyền, xem xét núi rừng âm u bên bờ tả ngạn rồi nhìn về cửa sông, Ngô Quyền hỏi viên tướng chỉ huy đội thuyền chiến:

- Ngươi ước cửa sông này rộng mấy dặm.

- Thưa, lúc này nước đang lên tràn ngập cả bãi lầy thì rộng lắm, nhưng lúc nước xuống, bãi cây nổi lên, cửa sông chỉ còn lại hơn một dặm. Đã vậy ở phía trong cửa sông lúc nước xuống còn một doi cát nổi chắn ngang chạy dài về phía đất liền.

Chiếc thuyền bơi ngược dòng sông đưa Ngô Quyền đến Thăm các bãi rậm, cửa lạch, hai bên bờ rồi trở về bến cũ. ở đây trên chiếc thuyền chỉ huy, Ngô Xương Ngập đã đợi sẵn. Vừa trông thấy bố, Xương Ngập đã nói:

- Thưa cha, con đã xem xét khắp vùng này, rất thuận lợi cho thủy chiến, còn đánh bộ không lợi.

Bước vào căn lầu xinh xinh, mái uốn trên thuyền chỉ huy Ngô Quyền nói với Tất Tố và Xương Ngập:

- Giặc sẽ tràn vào bằng đường sông, và ta phải đánh bại chúng trên mặt nước. Quân bộ chỉ hỗ trợ trên bờ thôi. Rừng rậm, lầy lội ở đây bất lợi cho quân bộ của ta một, thì đối với giặc bất lợi mười. Chúng đặt chân lên đất này chẳng khác gì bầy voi sa vào bãi lầy.

Vừa nói, Ngô Quyền vừa ghé mắt qua cửa lầu xem xét bên ngoài. Ngoài xa, dòng dông rộng vẫn lầm lì dâng lên từ từ, ấn sâu rừng rú xuống dòng nước lạnh lẽo. Hàng trăm chiếc thuyền lớn nhỏ nấp trong lạch kín. Một vài chiếc mảng lướt qua lại, lại đi tuần tra trên mặt sông. Cái băn khoăn của Ngô Quyền lâu nay là làm sao để biết được mọi bí hiểm của khối nước đang cuồn cuộn trải ra trước mắt mình. Sau nhiều lần cùng các tướng lĩnh đi thị sát, rồi bàn bạc hỏi han với những người am hiểu sông nước, Ngô Quyền đã vạch ra một kế hoạch chặn giặc. Cho đến bây giờ kế hoạch ấy vẫn giữ kín trong đầu người chỉ huy toàn quân.

Để giành được phần thắng hoàn toàn trong trận chiến đấu sống mái này, Ngô Quyền thấy cần phải hiểu biết thật chu đáo con sông này hơn nữa. Mà biết rõ điều ấy không ai hơn các bậc bô lão trong vùng.

Hôm nay, như đã hẹn, Phạm Cự Lạng sẽ dẫn đến cho Ngô Quyền một cụ già ở trang Gia Viên người am hiểu tường tận về sông nước, có mưu lược, và đã cống hiến nhiều công sức cho việc nước từ ngày Phạm Cự Lạng được lệnh của Ngô Quyền về quê hương Gia Viên của cụ để xây đào đồn lũy. Trong thuyền chỉ huy, Ngô Quyền ngồi đợi khách. Một chiếc thuyền chiến loại nhỏ rẽ nước lao đến. Phạm Cư Lạng đưa khách vào gặp chủ tướng. Vừa chuyển sang thuyền chỉ huy, nhận ra Ngô Quyền, ông già Gia Viên cúi người vái chào. Ngô Quyền đón khách:

- Được gặp cụ, thật là may mắn.

Không đợi cho chủ hỏi, ông già đã nói:

- Thưa tướng quân, chúng tôi sống trên miền đất này không biết đã mấy đời. Tôi chỉ biết, ông tôi chết vì con sông này lúc mới ngoài ba mươi tuổi, cha tôi thọ hơn, nhưng chưa đầy năm mươi tuổi đã chết vì con nước thủy triều ở đây...

Nói đà ngừng lại để thăm dò Ngô Quyền. Giọng nói oang oang, cùng với những thớ thịt cuồn cuộn dưới làn da bánh mật trên khuôn mặt của cụ già đã làm cho mọi người phải thèm khát cái sức lực của con người ngoài bảy mươi tuổi đang ngồi trước mặt. Thấy ông già nói năng sổi nổi và cởi mở, Ngô Quyền vỗ vào vai cụ thân mật:

- Còn cụ?

- Vâng còn tôi, nay đã ngót tám mươi rồi đấy, vẫn đánh bạn với sông nước vùng này. Chúng tôi chết vì nó mà cũng sống được nhờ nó. Ấy chẳng phải riêng gì tôi, mà dân cư vùng nầy phần lớn đều như thế cả.

Ngô Quyền tìm cách lái câu chuyện:

- Ấy thế mà giặc Nam Hán sắp sang chiếm dòng sông này đấy.

Đôi mắt long lanh mở rộng, ông già nói như quát tháo:

- Không được! Không được! Rồi hạ giọng, ông già hỏi, Tôi xin hỏi thật, tướng quân đem quân ra đây để chống giặc chắc đã có kế rồi. Xin cho tôi biết kế của tướng quân ra sao.

Sau khi ra lệnh cho quân hộ vệ tản sang thuyền khác, trong khoang lầu chỉ còn lại các tướng lĩnh và cụ già. Ngô Quyền mới nói:

- Tôi đã nghĩ kỹ, cắm cọc ở cửa sông, nhử giặc vào rồi lại tống ra. Chúng sẽ chết không còn một mống trên đường tháo chạy.

Kinh nghiệm sông nước đã làm cho ông già nhanh chóng hiểu được mưu kế của Ngô Quyền. Ông già reo lê:

- Cắm cọc! Cắm cọc! Cha mẹ ơi! Ngót tám mươi tuổi đầu như tôi cũng chỉ biết cắm đăng để bắt cá, chưa từng nghĩ đến chuyện cắm cọc để bắt giặc bao giờ. Hay lắm! Thật là phúc cho dân nước Nam có người như tướng quân để lập mưu giữ nước!

Ngô Quyền nói với cụ:

- Hiện nay giặc đang gấp rút sửa soạn chiến thuyền, cho nên chúng ta cũng phải nhanh chóng cắm cọc ở cửa sông. Nói thì dễ nhưng làm được thì khó, mà giặc lại không đợi chúng ta cắm xong cọc mới đến. Tôi muốn hỏi cụ trong ít ngày có thể cắm xong bãi cọc ở cửa sông được không?

Câu hỏi của Ngô Quyền xem ra khó quá đối với cụ. Suy nghĩ một hồi, cụ nói:

- Rừng cây ở đây không hiếm, lại tiện đường thủy vận chuyển, chỉ gồm gỗ làm thành cọc, rồi thả về. Mà trong trang ấp thiếu gì gỗ tạt! Chỉ cần mỗi nhà góp một cái cọc cũng đã nhiều. Còn giữ được rừng núi, sông nước thì còn có gỗ lo gì! Cắm cọc ở cửa sông... Lúc nước xuống, cửa sông thu hẹp, lại chia làm hai ngã vì có bãi cát nổi ở giữa.. Ta chỉ cần cắm cọc một bên, mà cắm ở chổ có thể cắm được thôi chứ. Ta bắt giặc phải tìm đường chết mà đi. Làm như vậy... Mấy hôm là xong được.

Lời nói của cụ già đã mở ra trước mắt mọi người một mưu kế thực hiện rõ ràng. Ai nấy đều gật gù khen ngợi ông già từng trải và có nhiều mưu trí. Riêng Ngô Quyền lại càng khâm khục và quý trọng ông già hơn ai hết. Bởi vì Ngô Quyền đã nhận thấy rằng không có ông già Gia Viên và sự giúp đỡ của dân cư trong vùng thì dù có hàng chục vạn quân trong tay, Ngô Quyền cũng phải bó tay trước thế giặc.

Ngô Quyền ngỏ ý lưu cụ già Gia Viên lại để cùng nhau bắt tay vào việc. Không chút do dự, ông già nhận lời.

Gió rét liên tiếp đưa hơi lạnh về trong mấy ngày liền. Hôm nay gió có dịu đi nhưng mây mù lại dày đặc. Trời mùa đông đã nặng nề, ở vùng gần kề sông biển vào lúc ban mai lại càng thêm mù mịt. Và giá lạnh ở đây cũng có phần cay độc hơn. Ấy thế mà hàng vạn con người từ các châu quận về đây theo lệnh của Ngô Quyền đang hăng hái thi gan với gió rét, lao vào rừng sâu, đẫm mình trong sông nước để dẫn gỗ, đẽo cọc tải về cửa sông Bạch Đằng.

Nhất là từ hôm tin quân ta đã giết đượt Kiều Công Tiễn làm chủ Đại La đưa về, thì cái khí thế hừng hực ấy lại càng bốc lên, bất chấp cả mưa gió. Thù trong đã đập nát, còn giặc ngoài. Thì đây, những thân cây lim rọc nhỏ màu nâu sẫm, thẳng tắp, những cành linh to bằng cây cột, vỏ xù xì còn tươi roi rói, dài hai ba sải tay, đầu vót nhọn bịt sắt, từ rừng núi bên tả ngạn kéo về phía Nam. Chỉ trong năm ba ngày nữa giặc sẽ tới. Việc cắm cọc không thể trì hoãn được.

Trong những ngày sôi sục này, Ngô Quyền bận rộn đến quên ăn quên ngủ, Đứng trên mũi thuyền chăm chú theo dõi con nước thủy triều đang xuống dần và bãi cát nổi mỗi lúc một nhô lên, Ngô Quyền không biết sương lạnh đã thấm ướt vai áo. Cho đến khi người lính hộ về tới dâng thêm áo, Ngô Quyền mới nhận thấy đôi vai mình tê buốt. Bao nhiêu tâm trí của Ngô Quyền đang dồn vào theo dõi và chỉ huy việc cắm cọc.

Hàng ngàn chiếc thuyền thả neo đậu san sát trên cửa sông. Dòng nước chảy xiết rồi từ từ, tưởng như ngừng lại. Trong khoảng sông biển mù mịt, người ta nghe rõ tiếng giào thét của ông già Gia Viên:

- Nhanh tay lên! Thả cọc xuống! Thả xuống!...

Lệnh của ông già được truyền đi nhanh chóng. Hàng ngàn cọc lim lao xuống nước ào ào. Tiếng vồ nện huỳnh huỵch, cùng với tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền ì oạp đã bị chìm đi trong tiếng hò reo quát tháo của hàng chục vạn con người đang vật lộn với sông nước trong khoảnh khắc quyết định này.

Len giữa rừng thuyền, Ngô Quyền tìm đến ông già Gia Viên đang cùng các tướng lĩnh theo dõi tình hình sông nước để điều khiển việc cắm cọc. Không đợi cho Ngô Quyền kịp nhận ra mình, ông già Gia Viên đã thoăn thoắt nhảy sang thuyền của Ngô Quyền. Trong âm thanh hỗn tạp ấy, Ngô Quyền đã nhận ra tiếng nói của ông già:

- Thưa tướng quân, dòng sông đã chảy chậm lại, nước thủy triều bắt đầu dâng lên. Lúc này không cắm xong trận địa cọc là lỡ việc, lại phải đợi đến mai, chờ nước xuống mới làm được đó!

- Không được, phải làm xong ngay hôm nay!

- Tướng quân không lo với hàng vạn con người cứ hai người cắm được một cọc là xong việc.

Rồi như con sóc, ông già nhảy sang thuyền khác. Qua làn sương mờ mờ, Ngô Quyền thấy ông đang đu mình trên đầu một chiếc cọc. Cọc lún sâu dần đến khi nữa mình trên đầu chìm hẳn xuống nước, ông già mới leo lên thuyền. Ngô Quyền đã có mặt ở trên khoang. Niềm tự hào và kiêu hãnh hiện ra trên khuôn mặt khi ông già chỉ tay xuống dòng sông nói vớ người chỉ huy:

- Thưa tướng quân, ở đây sâu và nhiều bùn, chỉ cần lắc mạnh là đã chôn chết cọc tại chỗ, còn ở trong cạn lại nhiều cát, đất rắn hơn, phải dùng néo buộc đòn ngang mới dùng vồ nện xuống được. Lũ chúng tôi đã trù liệu kỹ, phải cắm sao cho đầu cọc ngặp dưới mặt nước lúc thủy triều xuống thấp nhất và đầu cọc hơi chếch về phía trong. Thuyền nhẹ có thể qua được, còn thuyền lớn thế nào cũng bị vướng cọc.

Nhìn theo tay ông già trước mặt Ngô Quyền, Trên một khoảng rộng lớn, khối người đông đảo đang nhanh tay trồng cọc vào đúng lúc quyết định nhất mà ai cũng biết rõ. Chỉ trong chốc lát, trận địa cọc đã chìm kín dưới mặt nước đang dâng lên từ từ. Các đội chiến thuyền được lệnh nhổ neo, bơi ngược dòng tìm về bến trú.

Mặt trời mùa đông vàng ệch thả nắng yếu ớt xuống sông biển mênh mông. Từng đợt sóng xô nhau xóa nhòa những vết tích của hàng vạn con người vừa để lại trong lùm cây, trên bờ bãi. Cửa sông Bạch Đằng trở lại hoang vắng, lạnh lẽo. Vài chiếc thuyền chiến đưa các tướng lĩnh đi thị sát lại trận địa và chia nhau công việc để sẵn sàng chống giặc.

Giữa mùa đông. Vành trăng khuyết của một ngày đầu tháng đã lặn. Sương đêm càng về sáng càng dày đặc hơn. Đã mấy ngày đêm, năm trăm chiến thuyền giặc Nam Hán vẫn đậu bập bềnh ngoài biển khơi, quay mũi vào cửa sông Bạch Đằng. Đã nhiều lần cho thuyền vào thăm dò vùng cửa sông, nhưng tên tướng giặc Hoằng Tháo vẫn chưa dám khởi sự. Dải đất lạ ở phương Nam này có nhiều vật quý: Sừng tê, đồi mồi, ngọc trai, ngà voi, bạch quế... Cùng với nhiều của ngon vật lạ khác, vốn đã có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với Hoằng Tháo, nhưng vào lúc này, lại có vẻ bí hiểm và đáng sợ đối với hắn.

Từ lâu, Lưu Cung chúa Nam Hán, vẫn có ý muốn đánh chiếm Giao Châu ở Phương Nam. Tên chúa giặc cho rằng đất nước này đã hàng ngàn năm bị lệ thuộc vào phương Bắc, những cuộc nổi dậy của họ Khúc, họ Dương dần đây cũng chẳng cứu được dân tộc này ra khỏi thân phận bị lệ thuộc của họ. Nay nhân lúc nội tình lục đục, lại được Công Tiễn cầu cứu, Lưu Cung kéo quân sang. Lời can ngăn của Sùng văn sứ Tiêu Ích:

"Hiện nay mưa dầm đã suốt mấy tuần, đường biển hiểm trở xa khơi, Ngô Quyền lại là người giỏi lắm chớ nên coi thường. Đại quân phải nên giữ gìn thận trọng, dùng nhiều người đưa đường rồi sau hãy tiến",

Không lọt được vào tai chúa Nam Hán. Lưu Cung Phong cho con trai là Hoằng Tháo làm Giao Vương dẫn đoàn chu sứ tiếng về biển Nam, còn tự mình đem quân đóng ở trấn Hải môn để phô trương thanh thế, hỗ trợ cho Hoằng Tháo tiến quân, chờ tin thắng trận sẽ đi kinh lý vùng đất mới.

Đã hai đêm bập bệnh ngoài khơi. Hoằng Tháo sốt ruột, đoàn thuyền mang lương vẫn chưa đến kịp. Hắn hạ lệnh cho đoàn chiến thuyền hướng về cửa sông, luôn luôn sẵn sàng, chờ thuyền lương đến sẽ tiến vào nội địa. Tên tướng giặc mơ tưởng một ngày gần đây sẽ làm chúa đất nước này. Một mình hùng cứ một phương, nước Nam Hán của cha con hắn sẽ tha hồ vững mạnh. Viễn cảnh huy hoàng ấy đã thôi thúc tên tướng giặc quyết tâm xâm chiếm đất Giao Châu.

Trong lúc Hoằng Tháo đang say sưa nghĩ đến chuyện làm chủ Giao Châu thì trong một vùng lạch kín đáo bên hữu ngạn sông Bạch Đằng, Ngô Quyền cùng ông già Gia Viên ngồi trên thuyền theo dõi tình hình sông nước, điều khiển trận đánh.

Trời sáng tỏ, tiếng gà gáy dồn dập đã thưa dần. Ngô Quyền bước ra mạn thuyền nhìn về sông Bạch Đằng: Qua khe lá, dòng sông chìm trong sương mù dày đặc. Tỏ ra hài lòng với sự trù liệu, dự đoán rất khớp của ông già, Ngô Quyền cười nói:

- Lão đoán đúng lắm. Hôm nay nhiều sương, trời thả mù trắng xóa là để giúp cho quân ta đấy. Rồi trời lại nắng, sương sẽ tan sớm. Ba mươi chiếc thuyền của ta xông ra; đánh địch bất ngờ, giặc chỉ còn cách chống đỡ. Sương mù đã bịt mắt chúng lại không cho biết quân ta nhiều hay ít. Đến khi sương tan, biết thuyền của ta ít và nhỏ, chúng sẽ cậy thế mạnh tràn vào, ta rút lui để giữ được toàn quân và nhử chúng vào đúng lúc.

Ông già Gia Viên mỉm cười sung sướng. Bằng những kinh nghiệm và hiểu biết của mình, ông đã góp phần vào việc chống giặc giữ nước như ông đã mong muốn.

- Thưa tướng quân, lúc này tướng Tất Tố dang dẫn quân xông vào thuyền giặc.

- Vẫn chưa thấy tin đưa về!

Ngô Quyền đang mong đợi tin đầu của trận đánh.

Một chiếc thuyền nhỏ tử cửa sông ngược dòng vội rẽ cây tìm về báo tin quân ta đã tiến ra khiêu chiến như đã định.

Dòng sông xuống dần, đang chảy xiết. Sương mai đã tàn. Nắng sớm tỏa rộng trên mặt nước. Rừng cây um tùm hai bên bờ sông vẵn bình thản lao xao trong gió mùa đông khô lạnh. Ai mà biết rằng trong cái hoang vắng của một vùng sông nước và rừng rú này có vạn con người đã sẵn sàng, chỉ chờ lệnh và vùng dậy như bão táp.

Và từ phía cửa sông, đoàn thuyến chiến của Tất Tố đang hối hả bơi ngược dòng, chạy trốn tránh trước sự tấn công ồ ạt và hung hãn của bầy giặc dữ. Tiếng mái chèo khua nước mỗi lúc càng nghe rõ mồn một, nhưng vang động hơn vẫn là tiếng hò reo đắc thắng của giặc Nam Hán. Ba mươi chiếc thuyền nhỏ bé của quân Giao Châu làm sao có thể chống lại được đại quân thiện chiến của giặc đang hùng hổ trên đoàn thuyền chiến tầm đại!

Cắp gươm đứng trên mui thuyền chỉ huy, Hoằng Tháo phất cờ ra lệnh cho quân đuổi gấp. Trên đầu tên tướng giặc, ngọn cờ đại thêu hai chữ "Giao Vương" treo trên đỉnh cột đang vung vẫy. Hoằng Tháo truyền lệnh tiến thẳng về Đại La!

Nhưng chỉ trong nháy mắt, Hoằng Tháo đã chột dạ, tiền quân báo về có nhiều thuyền lửa xuất hiện từ xa đang băng băng theo dòng nước lao tới. Tên tướng giặc đã nghĩ đến nguy cơ bị phục kích, hắn hạ lệnh cho đại quân tiến chầm chậm. Đúng, trận phục kích của Ngô Quyền đã bắt đầu. Khi Hoằng Tháo nhận ra điều đó thì đã muộn!

Hàng trăm chiếc bè chất đầy củi khô bốc cháy đùng đùng lại đến làm cho trận đồ của thuyền giặc bị hỗn loạn. Lũ giặc đi đầu hò nhau dập lửa. Dập sao cho kịp? Bè lửa thuận dòng lao tới, một số thuyền giặc tránh không kịp đã bắt lửa. Nhưng đáng sợ hơn đối với chúng là đội chiến thuyền vừa bị đuối chạy thục mạng đã quay lại. Những tấm lá chắn trên truyền giặc rách toạc vì mưa tên. Giặc nối nhau lộn cổ xuống sông. Cho đến lúc đội quân của Tất Tố hạ cung nỏ, dùng đến giáo mác, gươm đao để cận chiến thì từ hai bên bờ sông chiêng trống nổi lên rung chuyển cả đất trời. Từng tốp hàng trăm thuyền chiến loại nhỏ nhưng lẹ làng đã xô ra đánh thốc vào sườn giặc.

Thuyền chỉ huy của Ngô Quyền phục trong vùng kín, nghênh cao mũi hướng ra dòng sông. Thanh gươm tuốt trần cầm sẵn trong tay, Ngô Quyền xem xét trận đánh. Ba mươi hai tay chèo đã sẵn sàng chờ lệnh đưa chủ tướng ra tham chiến...

Niềm vui hiện rõ trên nét mặt của mỗi viên tướng đang nắm trong tay quyền chủ động hoàn toàn trong trận thủy chiến ác liệc này. Ngô Quyền hỏi ông già Gia Viên, đang cầm phách gõ dịp và kẹp chặt lái phía đuôi thuyền:

- Đã đến lúc lùa giặc vào bẫy cọc được chưa?

Nhìn dòng nước đang rút mạnh, các lá nhô dần, trên bãi lầy đã bắt đầu nổi lên ngọn cỏ lơ thơ. Ông già Gia Viên ước tính lúc này dốc toàn lực buộc chúng phải tháo chạy đến cửa sông là vừa. Ông già trả lời:

- Thưa tướng quân, phát lệnh đước rồi đó.

Ngô Quyền phất cờ. Chiếc trống chầu treo trong thuyền chỉ huy từ đầu vẫn im tiếng, lúc này mới được lệnh phát ra năm tiếng một dồn dập. Tiếp theo, tiếng chiêng cỡ lớn rải rác bên bờ sông nối nhau vang rền, báo hiệu đội chiến thuyền chủ công do các tướng lĩnh điều khiển đã xuất trận. Ngô Quyền hạ lệnh cho quân sĩ nhằm thẳng chiếc thuyền có cắm cờ "Giao Vương" xông tới.

Bị chặt làm nhiều khúc, nhiều thuyền giặc tạt vào bờ, nhưng lại bị từng trận mưa tên xua đuổi, và cuối cùng cũng chìm nghỉm vì những chiến thuyền nhỏ nhẹ của quân Giao Châu. Giặc nao núng, đã có thuyền quay mũi. Còn đang lúng túng tìm cách đối phó thì từ phía sau, đội thuyền chiến do viên tướng trẻ đang ngược dòng sông tới đánh tập hai. Xương Ngập đã kịp đến để trợ chiến.

Biết thế nguy, Hoằng Tháo ra lệnh rút quân. Thuận dòng sông, thuyền giặc tranh nhau tháo chạy ra biển. Đại quân của Ngô Quyền vẫn bám riết. Đoàn thuyền chiến của Phạm Bạch Hổ đã phục sẵn ở cửa sông, lúc này mới ép quân giặc tràn qua bãi cọc. Hoằng Tháo muốn nhanh chóng trở về với biển cả, nhưng không được. Đã có bãi cọc ngầm giữ chúng lại. Bị vướng cọc, nhiều thuyền giặc bị vỡ, hoặc quay cuồng rồi vùi xác dưới dòng nước.

Những chiến khác ùn lại, xô vào nhau, tắc nghẽn. Trong khi đó, từ ba mặt, đại quân của Ngô Quyền do các tướng Tất Tố, Phạm Bạch Hổ, Pham Cự Lạng, Xương Ngập đã ập đến. Chiêng trống vang rền vẫn không át nổi tiếng quân reo. Cửa sông Bạch Đằng đỏ ngầu máu giặc. Năm trăm chiến thuyền của quân Nam Hán bị tiêu diệt gần hết. Tên tướng giặc Hoằng Tháo cũng bị vùi xác dưới dòng nước cùng với đội binh thuyền thiện chiến của hắn...

Một ngày mùa đông nắng đẹp. Đã xế chiều. Nước thủy triều bắt đầu dâng lên. Từng đợt sóng nhấp nhô, lấp loáng ánh nắng nối nhau nhảy múa như cùng với đại quân của Ngô Quyền đang hò reo mừng đại thắng. Thủy triều dâng cao, xóa sạch dấu vết hôi tanh của xác giặc. Vùng cửa sông Bạch Đằng lại trở về với vẻ đẹp thanh bình, bao la, hùng vĩ vốn có của nó.

Năm Mậu Tuất (938) sắp qua, một mùa xuân mới sẽ đến. Đã lâu rồi nhân dân Giao Châu lại được nô nức sửa soạn chào đón một mùa xuân rực rỡ chiến công đến như thế. Trong khi khắp Giao Châu vui mừng đón xuân thì ở phương Bắc, Lưu Cung sau khi nghe tin bại trận hốt hoảng, vội vã đem quân rời Hải Môn về Phiên Ngung. Cái mộng xâm chiếm Giao Châu của Lưu Cung tiêu tan hoàn toàn như xác con trai Hoằng Tháo của hắn đã tiêu tan trong bụng cá biển Nam.

Cũng vào một ngày đầu xuân rực rỡ chiến công ấy, Ngô Quyền xưng vương và chọn Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc xưa, để làm đất định đô lâu dài.

Từ ấy cho đến ngàn vạn năm sau tên tuổi Ngô Quyền mãi mãi gắn liền với những sự kiện lịch sử ngời sáng, ghi dấu ngày dân tộc ta đã đứng dậy, đập nát đầu giặc thù, tự định đoạt lấy vận mệnh của mình. Và sông Bạch Đằng như một vế đối nổi tiếng vẫn lưu truyền: "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" (máu quan thù từ xưa còn đỏ sông Bạch Đằng) còn lưu đến muôn đời chứng tích của một quá khứ oanh liệt.