PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Nguyễn Huệ



ptvinhvl
17-09-2009, 12:13 PM
Từ khi mở trường dạy học ở Yên Thái, học trò có nhiều, nhưng thầy giáo Hiến đặc biệt rất mến đám con Nguyễn Phi phúc. Trong ba anh em (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ). Nguyễn Huệ là út, nhỏ nhất lớp, nhưng là trò giỏi, nổi tiếng thần đồng, không ai địch được. Tuy còn nhỏ, nhưng Nguyễn Huệ sớm tỏ ra là người có trí, can đảm, sâu sắc, nhất là có tài điều khiển, thu hút chúng bạn trong mọi trò chơi. Những câu hỏi của cậu bé, phần lớn để lật ngược lại nghĩa sách, khiến cho thầy giáo Hiến, một người có tài, từng trải phải nhiều phen lúng túng.

Nhưng thầy giáo Hiến cũng rất ưa nhưng câu hỏi bất ngờ, thể hiện sự khát khao muốn hiểu biết tận cùng của cậu bé Nguyễn Huệ. Vốn là một môn khách rất được kính trọng của nhà Trương Văn Hạn, một người có thế lực triều Định Vương, nhưng thầy giáo Hiến lại là người bất đắc chí. Bởi vì khi Trương Văn Hạnh bị quốc phó Trương Phúc Loan vì kình định sát hại, giáo phải trốn vào Quy Nhơn mở trường dạy học ở ấp Yên Thái. Buồn rầu vì không được thi thố tài năng, nên hơn ai hết, giáo Hiến rất quý trọng người có tài trí. Giáo Hiến đặc biệt quý Nguyễn Huệ, cậu bé tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, cặp mắt hùng thu mà sáng như chớp là vì vậy.

Một hôm sau khi tan học, giáo Hiến gọi Nguyễn Huệ lại hỏi:

- Có phải nhà tía má anh vẫn gọi anh là Thơm phải không?

Nguyễn Huệ tinh nghịch đáp:

- Thưa thầy vâng. Vì hoa Huệ rất thơm ạ.

- Anh là một người cũng thích hoa? Vậy anh thích hoa nào nhất?

- Hoa Huệ ạ!

- Vì sao?

- Vì gốc của hoa mọc từ đồng dại hoang dã, dáng của hoa vươn thẳng cứng cáp, hương của hoa thơm ngào ngạt không lẫn được. Đấy là nói về hoa. Còn về người thưa thầy tổ tiên con vốn ở Hưng Nguyên, trấn Nghệ An. Trong một trận giao tranh giữa chúa Nguyễn và chúa Trịnh, ông tổ bốn đời của con bị chúa Nguyễn bắt vào đây khai khẩn. Gốc gác của con Nguyễn Huệ mỉm cười cũng giống loài hoa ấy lắm chứ.

- Ý tưởng anh lạ lắm thầy giáo Hiến thừa nhận Mới rồi thầy có đọc mấy câu sấm: "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công". Anh hiểu câu ấy thế nào?

Thầy giáo Hiến sửng sốt khi nghe cậu bé Nguyễn Huệ đáp:

- Bây giờ thần nịnh chúa hôn. Nhân tâm đằng trong đằng ngoài đều tư loạn, dân chúng lầm than. Xem ra thời bệnh ngày một trầm trọng. Thế tất không tránh khỏi một cuộc biến rất lớn!

Thầy giáo Hiến không dấu được những điều bao lâu ấp ủ:

- Ấp Tâu Sơn này núi non hiểm trở, dân cư đông đúc, giàu có nhất Quy Nhơn. Đâu cũng sẵn nhiều Voi lớn, ngựa hay; người người lại chuộng võ nghệ. Anh là người Tây Sơn, cứ cố đi. Người anh hùng không cần đợi tuổi.

Được thầy giáo Hiến khích lệ, Nguyễn Huệ vừa học văn vừa dùi mài binh thư luyện tập võ nghệ. Ở lĩnh vực nào cậu bé cũng tỏ rõ là người thông minh xuất chúng đến nỗi thầy Hiến, con người tinh đời nhưng kiêu ngạo, thường nhờn các quan văn võ tướng triều Nguyễn bằng nửa con mắt, đã thực sự khâm phục Nguyễn Huệ. Khắp vùng đồn đại về cậu bé. Và, cùng với năm tháng tài năng của Nguyễn Huệ lớn vụt lên nhanh chóng như con người. Hơn thế, tài năng ấy được nghĩa lớn ngày đêm thôi thúc, khiến Nguyễn Huệ sớm có được tầm nhìn xa biết rộng, sớm gắn bó với quần chúng lầm than, mưu sự nghiệp lớn.

Nguyễn Huệ lớn phổng lên thành một tràng trai tuấn tú. Lòng khao khát hiểu biết không dừng lại ở sách mà là mở rộng ra cuộc sống. Nhưng cũng là lúc cả nước đang chìm trong một bể biến động. Ở đàng ngoài, dân nghèo bị vua chúa và bọn nhà giàu cướp ruộng, tăng tô thuế, phải phân tán dắt díu nhau kiếm ăn đầy đường, đầy chợ. Thóc gạo quý như vàng. Dân đói đã phải ăn rau, ăn cỏ, ăn cả thịt chuột rắn. Nhưng nguồn sống ấy rồi cũng cạn. Các ngả đường xác chết chồng lên nhau. Số dân mười phần không còn một. Ở đàng trong, giai cấp thống trị từ bọn nhà chúa đến các quan to nhỏ, đua nhau làm giàu trên máu xương của dân chúng, coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn.

Bọn người ấy lại xa hoa dâm dật đến cùng cực. Chúa Nguyễn Phúc Chu có tới một trăm bốn sáu đứa con. Chúa Phúc Thuần dâm loạn đến nỗi mới mười sáu, mười bảy tuổi đã mắc bệnh không gần đàn bà được. Để mua vui, chúa này thường bắt phường hát dâm loạn với cung nữ ngay trước mặt mình. Chúa đãvậy, bọn triều thần ăn chơi không kém. Đại thần Nguyễn Nghiễm có tới một trăm hai mươi sáu người vợ lẽ nàng hầu. Bọn quan lại này chia phe phái lũng đoạn triều chính, mặc sức cướp bóc dân lành. Vì vậy, đàng trong cũng như đàng ngoài, dân nghèo liên tiếp nổi dậy. Anh em Tây Sơn theo sát tình thế, hiểu thấu dân tình, gấp rút chuẩn bị dấy binh.

Trong cuộc chuẩn bị ấy, Nguyễn Huệ sớm tìm ra chỗ yếu nhất của hiện tình Nguyễn để đánh chúng. Ấy là năm 1765, chúa Nguyễn Phúc Khoát chết. Lúc còn sống, Phúc Khoát đã lập người con duy nhất của chính phi lên làm thế tử nối ngôi chúa. Nhưng người ấy chết sớm để lại một đứa là Nguyễn Phúc Dương. Khi Phúc khoát chết Phúc Dương còn nhỏ quá không lên cầm quyền binh được, đáng lẽ ngôi chúa phải thuộc về người con lớn tuổi hơn cả của Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Luân và chính Phúc Khoát trước lúc chết cũng có ý ấy. Nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đã phế lập Phúc Luân, bắt Luân bỏ ngục, giết chết những người thân cận của Luân và đưa người con mười một tuổi của Phúc Khoát là Phúc Thuần lên làm chúa.

Từ đấy Trương Phúc Loan thâu tóm binh quyền trong tay, gia ân, báo oán, ngày tham tàn bạo ngược, đến nỗi, bọn quan lại triều Nguyễn đều oán ghét Trương Phúc Loan và muốn phù hoàng tôn Phúc Dương lên làm ngôi chúa.Lợi dụng cơ hội ấy, năm 1771, anh em Tây Sơn hiệu triệu dân chúng: "Đánh đổ Trương Phúc Loan và và ủng hộ hoàng tôn Dương", "Lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo" để phất cờ khởi nghĩa.

Nguyễn Huệ khi ấy mười chín tuổi, nảy ra sáng kiến, lập một toán nghĩa binh tỏa về các ấp, xuống các chợ để truyền bá nghĩa lớn, đồng thời lấy của cải của bọn nhà giàu phân phát cho dân nghèo. Chẳng mấy chốc, trai tráng trong vùng, không kể người kinh, người chàm, người Ba Na, người Gia Rai hay người Xê Đăng, đều lũ lượt ra nhập đoàn quân nông dân Tây Sơn. Một số thổ hào, đại phú, các đạo quân Hòa nghĩa và Trung nghĩa người Hán cũng đến tụ nghĩa. Đội quân nông dân ấy nhanh chóng tăng lên hàng vạn người.

Sau khi chiếm được các thành Quy Nhơn, Quảng Nam, Diên Khánh, Bình Khang và Bình Thuận, quân Tây Sơn bỗng lâm vào thế nguy. Mùa hè năm 1974 chúa Nguyễn sau choáng váng đã cử Tống Phúc Hiệp một tướng giỏi đem hai vạn quân theo hai đường thủy bộ tiến đánh quân Tây Sơn. Trước thế giặc mạnh, quân Tây Sơn phải rút khỏi Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khang để giữ vững vùng đất Phú Yên đến Quảng Ngãi. Mùa đông năm ấy, một tin dữ khác lại truyền đến: Chúa Trịnh có danh tướng Hoàng Ngũ Phúc đem gần bốn vạn quân đang tiến vào Thuận Hóa. Rồi đầu năm 1775, quân Trịnh tiến như vũ bão vào đánh vào Phú Xuân, tiến xuống Quảng Nam rồi vượt đèo Hải Vân đánh quân Tây Sơn. Các đại tướng Tây Sơn là Lý Tai và Tập Đình xuất trận quyết cản bước tiến của quân Trịnh. Nhưng quân Tây Sơn bị đại bại ở Cầm Sa. Tập Đình bỏ nghĩa quân chạy tháo thân về nước.

Sau trận thua ấy quân Tây Sơn rút khỏi Quảng Nam. Nhưng quân Trịnh vẫn tiếp tục tiến, Nguyễn Nhạc Lý Tài phải đem quân về Quy Nhơn. Bị kẹt giữa hai kẻ thù có binh mạnh tướng hùng, quân Tây Sơn có cơ bị diệt.

Nguyễn Nhạc lo lắng triệu Nguyễn Huệ đến hỏi:

Vì để đễ lôi kéo dân chúng lên chú là người có tài cầm binh. Tôi vẫn phải trao quyền đại tướng cho Lý Tài và Tập Đình. Nay Tập Đình bỏ chạy, Lý Tài thì thắng dễ kiêu, bại dễ nản, xem ra không thể giao binh cho ông ta được.

- Anh nói rất hợp ý tôi Nguyễn Huệ cắt lời nhưng việc chọn tướng hãy bàn sau. Bây giờ phải nghĩ kế thoát khỏi thế nguy khốn này. Hiện sức ta không thể đương đầu với quân Trịnh, mà phải giảng hòa gấp với một trong hai kẻ thù ấy. Hoàng Ngũ Phúc trải việc đời, có tài cầm quân, rõ là kẻ cần phải giảng hòa. Hòa một kẻ thù, đánh một kẻ thù chính là kế vẹn toàn vậy.

Nguyễn Nhạc phấn chấn:

- Chú đã vén cho tôi một lớp mây mờ. Chẳng hay muốn giảng Hòa với quân Trịnh phải làm thế nào?

- Quân Trịnh cậy đông, hùng hổ như vậy nhưng cũng đã thấm mệt. Anh cứ cho sứ đến thương thuyết bảo Hoàng Ngũ Phúc rằng ta nhận làm quân tiên phong để đánh chúa Nguyễn. Hoàng Ngũ Phúc tất phải biết là ta không thật bụng. Nhưng hắn sẽ nhận lời vì, nếu ta thắng hắn đỡ công khó nhọc mà cũng thu được đất mới. Nếu ta bại hắn nhân đó giết ta để mở đường đánh chúa Nguyễn.

Nguyễn Nhạc cười ha hả:

- Em ta tuổi trẻ mà mưu cao. Ta chịu không nghĩ được như thế.

Rồi, quả như lời Nguyễn Huệ, nhân giảng hòa với quân Tây Sơn và phong cho Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn trưởng hiệu, tráng tiết tướng quân. Hơn thế, viên tướng Trịnh này đã cử Nguyễn Hữu Chỉnh, tức cống Chỉnh vào tận Quy Nhơn ban gươm, cờ, ấn, áo mũ, ngựa cho Nguyễn Nhạc.

Tạm yên mặt Bắc, quân Tây Sơn dốc sức đánh quân Nguyễn. Nhưng ở Phú Yên chúng có đến hai vạn quân. Ngoài ra ở Vũng Lấm, Xuân Đài, Tống Phúc Hiệp cũng cho đóng quân để vừa chống đỡ, vừa cứu Phú Yên khi cần. Vì vậy, việc đánh quân Nguyễn ở Phú Yên không dễ dàng. Mấy hôm rồi Nguyễn Nhạc vẫn phân vân chưa chọn được đại tướng. Trao binh quyền cho Nguyễn Huệ, Nhạc sợ Lý Tài ghen tị.

Nhưng rõ là lâu nay Lý Tài bại trận liên tiếp mất hết lòng tin của quân sĩ, thì không thể giao cho trọng trách được. Bản thân Nguyễn Nhạc cũng tự thấy sức mình không làm nổi. Vì vậy, suy đi tính lại Nguyễn Nhạc quyết định giao chức đại tướng cho Nguyễn Huệ. Hay tin ấy quân Tây Sơn vui mừng không xiết. Nhưng Lý Tài đùng đùng nổi giận nói với Nguyễn Nhạc:

- Huệ tài thật, nhưng tuổi còn trẻ sao cầm được trọng binh?

Nguyễn Nhạc phân trần:

- Có ông giúp sức, em ta chắc làm nên việc lớn. Ông không thấy em ta đang luyện quân rất nghiêm đó sao?

- Tôi chỉ thấy Huệ cho may cờ, áo chú ý phẩm phục nhiều hơn là luyện võ. Vả tướng soái gì mà lúc nào cũng cặp kè với quân sĩ, quân lệnh sao nghiêm được?- Con ngựa hay cắn hay đá mới là ngựa hay. Nguyễn Nhạc nén giận nói Thử chờ xem sao?

Tống Phúc Hiệp đang nằm ngủ trong bản doanh của mình thì được lính canh vào báo: Có sứ Tây Sơn là Nguyễn Văn Chất xin ra mắt. Lập tức Tống Phước Hiệp dàn võ sĩ quân lính gươm kiếm tuốt trần suốt lối đi rồi cho Sứ Tây Sơn vào. Vừa thấy Nguyễn Văn Chất, viên danh tướng nhà triều Nguyễn lớn tiếng mắng:

- Lâu nay Nguyễn Huệ luyện quân sĩ đánh ta. Nay được nhà ngươi được tặc tướng sai đi xem xét nội tình quân bản triều phải không? Là tôn thất của chúa, ngươi không biết nhục sao?

Y theo kế của Nguyễn Huệ, Nguyễn Văn Chất đáp:

- Đại tướng tôi biết ông có lòng yêu mến hoàng tôn chứ không phục Phúc Thuần lên ngôi chúa. Nay tên Quốc tặc Trương Phúc Loan đã bị giết, nạn nước đã qua. Vậy chính là lúc chúng ta lên lập hoàng tôn lên ngôi chúa cho yên xã tắc.

- Sao Tống Phúc Hiệp bớt giận giữ anh em Tây Sơn cũng có bụng ấy?

- Điều ấy đã hẳn Chất đáp tự tin Nguyễn Huệ còn biết ông là danh tướng, quân Tây Sơn không địch được. Mà quân Trịnh thì đã phơi bày hết tâm địa của kẻ tham, muốn lấn đất chiếm dân của chúa. Vậy còn đợi gì mà không cùng anh em Tây Sơn nhân lúc này trừ hẳn kẻ địch từ xa đến. Nguyễn Huệ sẽ xin làm tướng tiên phong để ông đốc xuất trung quân.

Tống Phúc Hiệp ngồi lặng đi hồi lâu. Những điều sứ Tây Sơn vừa nói như đọc được lòng hắn. Có điều hắn còn hồ nghi chưa tin. Vì vậy, hắn tiến lại gần Nguyễn Văn Chất, giọng chìm đi:

- Nguyễn Huệ tuổi trẻ mà nhìn thấu được ruột gan ta. Vì chút tình riêng ông không được dối ta. Nguyễn Huệ thực bụng vậy sao?

- Lý Tài cầm binh bao phen đại bại với quân Trịnh. Nguyễn Huệ đang nóng lòng rửa mối quốc thù ấy. Sao tôi lại nói sai!

Tống Phúc Hiệp bãi việc dàn đặt quân sĩ thị oai mở tiệc đãi sứ Tây Sơn. Nhưng ngày hôm sau, giữa lúc Tống Phúc Hiệp và Nguyễn Văn Chất bắt đầu thương thuyết cụ thể thì chợt quân canh vào báo: Có đội quân lạ sắc diện màu đỏ đang trùng điệp kéo đến. Tống Phúc Hiệp túm áo Nguyễn Văn Chất thét lớn:

- Nguyễn Huệ lừa ta, cả ngươi cũng lừa ta.

Nguyễn Văn Chất mặt lạnh như tiền, chậm rãi đáp:

- Ông hãy lên mặt thành xem có đúng là Nguyễn Huệ mang cờ trắng không?

Tống Phúc Hiệp lên mặt thành. Hắn kinh hoàng nhìn thấy: Bụi đường bốc lên mù mịt theo bước đoàn quân sắc phục đỏ. Đoàn quân đông như kiến cỏ đi chật đường, đi man theo đồi, đi tràn đồng ruộng. Đoàn quân ào ạt tràn tới thành như một dòng thác. Chưa kịp định thần, Tống Phúc Hiệp đã nhận ta Nguyễn Huệ ngồi trên bành voi dẫn đầu đoàn quân vừa chỉ tay ra một mệnh lệnh gì đấy. Từng trải chinh chiến, là viên dũng tướng bao phen xông pha giữa đội ngũ quân Trịnh, nhưng vì quá bất ngờ, lại tức vì trúng độc kế của viên tướng trẻ Tây Sơn, hàm răng Tống Phúc Hiệp cứ cứng lại, không ra nổi một mệnh lệnh.

Đến lúc Tống Phúc Hiệp thét gọi tướng sĩ lên thành thì Nguyễn Văn Chất đã cao bay xa chạy và quân Tây Sơn đã hò reo náo động ập đến thành. Tống Phúc Hiệp sai phó tướng Nguyễn Văn Hiển đem quân tràn ra. Lập tức viên tướng Nguyễn bị chém chết, quân Nguyễn tan vỡ. Cai cơ Nguyễn Khoa Kiên lại được lệnh đem quân ra chặn. Thoắt một cái Kiên đã bị Nguyễn Huệ bắt sống. Quân Tây Sơn nhân cơ hội ấy tràn vào thành như nước vỡ bờ. Tống Phúc Hiệp hồn xiêu phách lạc, lên ngựa tháo chạy. Thành Phú Xuân bị hạ trong chớp nhoáng. Cờ đỏ Tây Sơn được cắm san sát khắp bốn mặt thành. Chỉ trong vòng một ngày hai vạn quân Nguyễn bị diệt, nhiều tướng bị chém hoặc bị bắt.

Tin vui đồn về Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc không ngờ Nguyễn Huệ lập được công nhanh như thế. Hoàng Ngũ Phúc hay tin ấy thở dài nói với các tao sĩ Hoàng Phụng Cơ Hoàng Đình Thể:

- Nguyễn Huệ làm đại tướng, Quân Tây Sơn như ngọn lửa bốc mạnh. Tôi già rồi, còn các tướng tôi e không phải là tay đối địch được với hắn.

Thiên Tài quân sự của Nguyễn Huệ khiến quân Trịnh kinh hãi. Hoàng Ngũ Phúc buộc phải phong cho Nguyễn Huệ Tây Sơn hiệu tiến phòng tướng quân. Rồi sau đấy, biết không địch được quân Tây Sơn, Hoàng Ngũ Phúc tự ý bỏ đất Quảng Nam lui về Phú Xuân. Ít lâu sau, Hoàng Ngũ Phúc chỉ để một số quân tướng giữ Phú Xuân, còn mình rút đại về Bắc.Nguyễn Huệ, năm ấy hai mươi ba tuổi, lần đầu tiên cầm đại binh đánh một trận thắng lớn rực rỡ. Hơn thế, mọi việc Nguyễn Huệ đã trù tính đều chính xác, khiến cho trận đánh vừa nhanh nhẹn táo bạo lại rất gọn. Bằng chiến thắng ấy, đã thay đổi hẳn tình thế, quân Nguyễn khó lòng lấy lại được sức, quân Trịnh kinh hoàng tự rút lui. Khắp nước hâm mộ tài năng siêu việt của tên tướng trẻ Nguyễn Huệ.

Hoảng hốt trước sức mạnh của quân Tây Sơn. Nguyễn Phúc Thuần truyền lịnh tuyển lính và cấp tốc triệu quân các nơi về Gia Định hội binh: Lập tức từ Hà Tiên, quân của Mạc Thiên Tứ xuất phát. Tướng lục lâm Chu Văn Tiếp, sau này là tổng nhung của Nguyễn Ánh, đem quân từ Phú Yên về gấp. Lý Tài vì ghen tức chức vị đại tướng của Nguyễn Huệ, đem tám ngàn quân hòa nghĩa sang hàng Tống Phúc Hiệp. Giặc Nguyễn lại mạnh lên. Tống Phúc Hiệp lại một lần nữa đem quân ra Phú Yên cự nhau với quân Tây Sơn.

Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Nhạc:

- Thế Giặc chẳng nên coi thường. Xin anh cho quân chia cắt binh lực của chúng ta mới mong diệt được.

Nguyễn Nhạc bèn sai Nguyễn Lữ đem quân đánh thẳng vào Gia Định khiến Phúc Thuần phải bỏ thành chạy ra Trấn Biện rồi Bà Rịa. Nhưng tướng Nguyễn, Đỗ Thanh Nhơn đã mộ được ba ngàn quân Đông Sơn đi tìm chúa. Rồi, Tống Phúc Hiệp Lý Tài Cũng được triệu về. Thấy giặc mạnh Nguyễn Lữ rút quân về Quy Nhơn.

Anh em Tây Sơn nhanh chóng tuyển thêm lính, điểm duyệt tướng sĩ, quyết sống mái với giặc. Nguyễn Huệ lại được giao toàn bộ binh quyền đem quân tiến đánh Gia Định, quyết xóa sổ cơ đồ chúa Nguyễn.

Đầu năm Bính Thân (1776), nắm cơ hội nội tình chúa Nguyễn đang rối ren: Lý Tài và Đỗ Thanh Nhơn tranh giành nhau quyền thống lĩnh quân đội chia ra hai phe với hai chúa. Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần đi với Đỗ Thanh Nhơn; tân chính vương Nguyễn Phúc Dương thuộc phe cánh của Lý Tài nên Nguyễn Huệ huy động toàn bộ quân theo hai đường thủy bộ bất thần tiến vào Gia Định.

Bằng cuộc hành quân thần tốc, bằng trí phán đoán chính xác và quả quyết, bằng cách đánh vũ bão vào những nơi tập trung binh lực của giặc, sau sáu tháng đánh liên tiếp với mấy chục trận lớn nhỏ, cơ đồ chúa Nguyễn bị quét sạch trước sức mạnh của quân Tây Sơn. Thái thượng vương cùng các tướng lĩnh lớn nhỏ đều bị bắt sống. Chỉ có Nguyễn Ánh, khi ấy mười năm tuổi, cùng mẹ và một số chị em trốn thoát. Toàn bộ miền đất Gia Định được thu phục.

Nguyễn Huệ năm ấy hai mươi lăm tuổi, lần đầu tiên thống lĩnh một đội quân lớn, lập lên kỳ tích đã phải vội vàng đem quân về Quy Nhơn theo lệnh của Nguyễn Nhạc. Thiên tài cầm quân của Nguyễn Huệ không phải chỉ khiến cho giặc khiếp đảm mà còn khiến cho Nguyễn Nhạc nảy sinh mối lo ngại nhỏ nhen. Nguyễn nhạc không muốn để Nguyễn Huệ quá nổi danh, càng không muốn Nguyễn Huệ ở ngoài vòng kiềm thúc của mình.

Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn Vương, phong cho Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm thiếu phó. Từ đó, nhất là khi lật được nhà Nguyễn, vua Tây Sơn tỏ ra thỏa mãn với ngôi báu của mình. Thậm chí tầm nhìn của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc chỉ bó hẹp ở vùng Quy Nhơn còn miền đất Gia Định không được Nguyễn Nhạc chú ý giữ gìn. Nguyễn Nhạc không dám để Nguyễn Huệ, người có tài kinh bang tế thế, giỏi điều khiển công việc, nghiêm quân luật, được lòng dân ở lại trị vì mà chỉ giao cho các thuộc tướng đủ lòng dũng cảm, trung thành, nhưng kém tài điều khiển việc nước ở lại cốt giữ thành trì.

Vì vậy Nguyễn Ánh được người Phú Lãng Sa, người bồ Đào Nha gia sức giúp vũ khí, tiền bạc, được bọn hào phú, bọn tướng sống sót hùn sức, trở lại thành mối đe doạ đối với cơ đồ nhà Tây Sơn. Năm (1781), Nguyễn Ánh đã có ba vạn quân thủy bộ và nhiều tàu chiến do người Tây dương điều khiển. Trước thế giặc mạnh. Nguyễn Nhạc phải cử Nguyễn Huệ đem quân đi đánh. Sau trận thủy chiến khủng khiếp giữa một bên là hơn bốn trăm thuyền chiến có nhiều tàu của bọn Tây dương với hơn một trăm thuyền chiến của Tây Sơn do đích thân Nguyễn Huệ đốc suất ở ngã Bảy, tên tuổi Nguyễn Huệ càng thêm lẫy lừng trong chiến công thần kỳ mới.

Toàn bộ thủy quân Nguyễn Ánh bị đánh tan, nhiều tàu chiến của người Tây Dương gắn súng đại bác bị đánh tơi tả. Tàu chiến do cai cơ Mạnh Hòe chỉ hay bị vùi xuống lòng sông sâu cùng với chủ tướng của nó. Nguyễn Ánh sau lần đại bại ấy cử xứ bộ sang Xiêm xin cầu viện. Nguyễn Huệ quyết định ở lại Gia Định để điều khiển công việc triều chính. Buông vũ khí Nguyễn Huệ trở thành người minh chủ biết coi nhân nghĩa. Hơn thế, Nguyễn Huệ trở thành người có con mắt tinh tường biết cách khôi phục sản xuất, giúp dân lo an cư lạc nghiệp. Nhờ vậy, đất Gia Định sớm trở lại cảnh thanh bình thịnh vượng.

Nhưng Nguyễn Huệ lại bị Nguyễn Nhạc triệu về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ đem quân đi, Nguyễn Ánh liền trở lại khôi phục sức lực. Vì vậy, năm một ngàn bảy trăm tám ba, Nguyễn Huệ lại được cử đem binh đi đánh. Và cũng như các lần trước, Ánh đại bại phải chui rúc hết đảo này đến đảo khác, ngửa tay xin bọn cố đạo Tây dương từng chút lương thực.

Sau khi thoát chết, Nguyễn Ánh cùng đám tùy tùng đi tìm thuyền gặp Bá Đa Lộc. Viên cố đạo người Phú lãng sa này chưa hoàn hồn sau những ngày chạy trốn quân Tây Sơn nên đón Ánh chẳng mặn mà. Ngắm nhìn nét mặt tiều tụy của Ánh, Bá Đa Lộc cất giọng trách móc:

- Tôi không thể tưởng tượng được quân của chúa lại bạc nhược đến nổi không lần nào địch nổi đội quân dân đen ấy! Tài năng của chúa Bá Đa Lộc cười khẩy chỉ là huyền thoại chăng? Bao nhiêu tàu đồng, vũ khí của người Phú lãng sa đều lọt vào tay giặc cả rồi...

Nguyễn Ánh nhịn nhục cầu khẩn:

- Thưa đạo trưởng, người Tây dương cũng không cự nổi quân giặc chứ huống gì quân tướng của tôi. Cai cơ Mạn Hòe bị chết trong đám loạn quân, người Tây dương phải tháo chạy ở Ngã Bảy năm trước tỏ rõ thủy binh Nguyễn Huệ mạnh mẽ nhường nào. Vả, lúc này mà còn đay nghiến nhau là trúng kế Nguyễn Huệ, phỏng có ích gì?

Bá Đa Lộc dịu giọng:

- Bây giờ chúa muốn gì xin cứ nói thẳng.

- Thưa đạo trưởng Ánh đáp trong cơn hoạn nạn mới tỏ rõ tấm lòng người trượng phu. Xin đạo trưởng cấp thêm cho tàu đồng, vũ khí và cả quân sĩ nữa. Cấp càng nhiều càng hay. Công trời biển của đạo trưởng tôi sẽ ghi lòng tạc dạ, hẹn có ngày báo đền.

Ngẫm nghĩ rồi Bá Đa Lộc thủng thẳng nói:- Người Phú lãng sa bao giờ cũng sẳn lòng giúp chúa khôi phục lại nghiệp cũ. Nhưng việc trợ giúp ấy không phải một lúc là có ngay được. Chúa tôi hãy quay về gắng mộ binh, luyện quân ta sẽ hết lòng. Bá Đa Lộc nói xong lạnh nhạt bỏ xuống tàu. Nguyễn Ánh bị làm nhục đứng lặng hồi lâu nghẹn ngào nói với đám tùy tùng:

- Đạo trưởng không còn tin vào sức ta nữa. Bây giờ thế ta đã cùng, lực ta đã kiệt, chỉ còn đánh liều sang cầu cứu vua Xiêm nữa mà thôi.

Rời ngai vàng, Vua Xiêm thân đỡ Nguyễn Ánh đang quỳ phủ phục trước mặt mình, giọng ôn tồn:

- Tự vương thật đáng thương hại, ta bằng lòng lời tâu xin của tự vương can chi phải buồn phiền cho nhọc lòng.

Nguyễn Ánh lại sụp lạy:

- Quả là danh bất hư truyền. Đức lớn của Bệ hạ thấm nhuần đến cả cỏ cây muôn vật. Ơn này dầu phải xả thân làm trăm mảnh cũng không báo đáp được.

- Việc ấy là cần nhưng hãy nói sau. Tự vương hãy vững lòng chờ xem quân ta chỉ một trận là bắt sống Nguyễn Huệ.

Ngay sau đấy, vua Xiêm cử hai cháu mình là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem hai vạn thủy binh và ba trăm thuyền chiến theo chân Nguyễn Ánh tiến vào Gia Định. Núp dưới bóng quân Xiêm, Ánh tập hợp tàn quân, cử Chu Văn Tiếp làm bình Tây đại đô đốc điều khiển các cơ quân.

Ngày mồng chín tháng sáu năm, Giáp Thìn (Hai mươi lăm tháng Bảy năm 1784) quân Xiêm Nguyễn Từ Vọng Các xuất phát. Tháng sau, quân Xiêm Nguyễn đổ quân lên Rạch Giá, rồi Cần Thơ, Sa Đéc. Quân Tây Sơn không chống nổi thế giặc mạnh phải rút chạy. Đắc ý, Nguyễn Ánh vội viết thư vời bọn Bá Đa Lộc và các cố đạo mà Ánh chịu ơn sâu về Gia Định, an hưởng thái bình. Rồi để chắc thắng, lần nữa Ánh khẩn khoản nhờ Bá Đa Lộc một phen đi cầu viên Phú lãng sa và gởi trả đứa con đầu của mình là cảnh làm con tin. Nghĩa là cùng một lúc, Ánh bán nước cho hai kẻ thù.

Ở Quy Nhơn được tin dữ lần thứ tư, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ thống lĩnh đại quân đi đánh giặc. Nguyễn Nhạc dặn Nguyễn Huệ:

- Đi chuyến này, Long Nhương chớ khinh suất. Xiêm vốn quen thị trận lại được bọn Tây dương trợ giúp, xem ra việc khó hơn trước nhiều lắm.

Vẫn dáng quả quyết, tự tin Nguyễn Huệ đáp:

- Giặc hùng hổ lúc đầu nhưng không tránh được hai lẽ yếu. Lẽ thứ nhất, chúng cậy công đem quân giúp Ánh lên ngạo mạn, chỉ lo cướp bóc vơ vét cho nhiều, khiến trăm họ đều căm giận, chỉ chờ dịp trừ đi. Lẽ thứ hai, tướng sĩ ta hết lòng nhưng không đánh thẳng, giặc tưởng ta lún lên kêu căng khinh suất. Chỉ cần một trong hai lẽ ấy giặc đã đủ bại trận. Hoàng huynh yên lòng, mọi kế đánh giữ tôi đã nghĩ rồi.

Ngay ngày hôm sau, viên dũng tướng mưu lược thống lĩnh thủy binh tiến về Gia Định. Dọc đường đi nhờ những tin tức thu được, Nguyễn Huệ quyết định chọn một nơi giao chiến có lợi cho mình nhất. Ấy là khúc sông Mỹ Tho, đoạnm từ Rành Gầm đến Soài Mút. Tại đây, Nguyễn Huệ cho giấu thủy binh, thuyền chiến ở Rạch Gầm, Rạch Soài Mút và sau cù lao Phới Sơn. Hai bên bờ sông, Nguyễn Huệ cho đặt súng lớn, quân đội và nguỵ trang rất khéo.

Bày binh bố trận xong, Nguyễn Huệ đích thân đốc xuất một cánh quân thiện chiến xông thẳng vào đại bản doanh của giặc tại Sa Đéc, thách chiến, Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh, thấy Nguyễn Huệ bất thần đem quân đến đều kinh hải. Nhưng rồi cậy thế đông, chúng hò nhau xuất toàn quân ra đánh. Nguyễn Huệ lún thế lùi dần, lùi dần rồi chạy thật. Trưa ngày mùng Tám tháng Chạp năm Giáp Dần (Mười Tám tháng Một Năm 1975), các tướng Xiêm Nguyễn và toàn bộ thủy quân của chúng lọt vào Rạch Gầm Soài Mút.

Lập tức Nguyễn Huệ bắn pháo lệnh rồi quay thuyền tiến đánh. Dưới nắng gay gắt, quân thủy bộ Tây Sơn từ các ngả tràn ra như những dòng thác đổ. Súng hai bên bờ sông từng đợt gầm lên chìm trong tiếng reo hò dậy trời của quân Tây Sơn. Bị đánh bốn mặt, chỉ trong phút chốc, bốn trăm thuyền chiến của giặc chìm trong biển lửa. Máu giặc nhuộm đỏ khúc sông. Những tên lính Xiêm Nguyễn sống sót nhấp nhô bơi giạt vào bờ liền bị bộ binh Tây Sơn vung kiếm chém chết tức khắc.

Hai vạn quân Xiêm chỉ còn vài nghìn tên chạy thoát. Ba nghìn quân Nguyễn trong số bốn nghìn bị vùi xác. Tin thắng trận loan đi, dân chúng còn bàng hoàng sửng sốt. Họ không ngờ Nguyễn Huệ đã cản phá đại quân Xiêm Nguyễn nhanh chóng đến thế. Dân chúng từ các nơi cơm đùm cơm nắm xuôi thuyền, ngược sông lũ lượt đổ về Rạch Gầm, Rạch Soài Mút xem trận đánh còn tanh máu giặc, nhất là để được nhìn tận mắt người anh hùng áo vải mưu lược như thần. Chỉ qua một trận kịch chiến, quân giặc đông nhường ấy, hung hăng nhường ấy, đã đại bại.

Nguyễn Huệ giản dị, thân thiết đứng giữa đám đông dân chúng, ân cần khuyên nhũ dân chúng siêng năng việc đồng áng để cho dân thịnh nước giàu. Dân chúng Gia Định mến thương và tự hào về viên tướng nông dân xuất chúng. Hình ảnh Nguyễn Huệ giản dị, đôn hậu, nặng tình yêu thương dân đã khắc sâu vào lòng dạ họ.

Tháng Tư Năm Ất Tỵ (1785) hay tin Nguyễn Ánh đã trốn sang Xiêm, Nguyễn Huệ để đô úy Đặng Văn Trấn ở lại Gia Định, rồi đem đại quân về Quy Nhơn lo việc diệt Trịnh.

Nguyễn Huệ sửa soạn binh lực lo việc diệt Trịnh ở đàng ngoài. Một hôm, Nguyễn Huệ triệu Nguyễn Hữu Chỉnh:

- Lâu nay vì bận đánh Nguyễn nên tôi phải chịu để cho quân Trịnh giữ đất Thuận Hóa. Nay chúa Nguyễn đã bị diệt; Vậy phải tính đến việc diệt Trịnh, quy giang sơn về một mối. Muốn diệt Trịnh trước phải lất được đất Thuận Hóa, ông thấy thế nào? Tướng quân hỏi tức là đã trả lời. Tôi xin hết lòng phò tá.- Nội tình Bắc Hà ra sao?

Thấy Nguyễn Huệ hỏi thực bụng, Nguyễn Hữu Chỉnh mạnh dạn:

- Từ ngày lấy được Phú Xuân, Trịnh Sâm kiêu ngạo lấn áp vua Lê ra mặt. Đã thế, bạo chúa lại quang dâm, tửu sắc, sa hoa rất mực nên bọn cung nhân, đại thần ỷ làm càn, phá rối triều chính, ức hiếp dân đen nên thần người đều căm giận.

- Triều chính ư? Nguyễn Huệ cướp lời cứ gì vua Lê, phủ chúa cũng không còn quyết đoán mọi việc.

- Quả vậy Chỉnh phấn chấn Từ ngày quân tam phủ phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải, giết cung phi Đặng Thị Huệ và quyền thần Hoàng Đình Bảo, chúng cậy công đòi đủ điều. Ngay việc cắt đặt quan lại tướng lĩnh nhà vua nhà chúa cũng không dám làm trái ý chúng. Xem vậy, tướng quân đem binh ra lấy Thăng Long dễ như trở bàn tay!

Nguyễn Huệ thì cười hỏi tiếp:

- Thực trạng Thuận Hóa như thế nào?

- Quân Trịnh có cả thảy ba vạn. Nhưng chúng kêu rông, sách nhiễu dân chúng khiến ai cũng muốn trừ đi. Chủ tướng chúng tạo quận công Phạm Ngô Cầu Vũ dũng nhưng vô mưu; phó tướng Hoàng Đình Thể cũng vào loại ấy. Ngự ấy không phải là tay đối địch với tôi chứ chưa dám nói đến tướng quân.

- Tôi vẫn có bụng đánh Thuận Hóa Nguyễn Huệ nhấn mạnh nhưng máy lân xin mà hoàng huynh chưa nghe.

Vào lúc ấy, Phạm Ngô Cầu mượn tiếng thăm hỏi nhưng sự thật là để dòm dò nội tình quân Tây Sơn đã cử hai thuộc tướng là Nguyễn Phu Như và Vũ Vĩnh Thành vào ra mắt Nguyễn Huệ. Nhưng hâm mộ tài đức Nguyễn Huệ Nguyễn Phu Như đã khai hết thực trạng Thuận Hóa với anh em Tây Sơn. Qua lời Phu Như, Nguyễn Huệ biết tướng Trịnh Phạm Ngô Cầu chuộng việc thờ cúng, tin chuyện nhảm nhí lên đã mật sai một nghĩa quân giả làm thuật sĩ vào ra mắt Phạm Ngô Cầu nói chuyện hoạ phúc và khuyên Cầu phải làm đàn chay, cầu trời phật để tai qua nạn khỏi.

Đồng thời, Nguyễn Huệ thúc Nguyễn Nhạc cho cất quân đi đánh. Nguyễn Nhạc cực chẳng đã, sai Nguyễn Huệ thống lĩnh các quân thủy bộ, Vũ Văn Nhậm làm Tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu quân đô đốc, Nguyễn Lữ đốc suất đội dự bị thủy quân sửa soạn tiến đánh Thuận Hóa.

Trước ngày xuất trận, Nguyễn Huệ triệu các tướng lại nói:

- Đánh Trịnh không thể như là đánh Nguyễn vì binh Trịnh đông, tướng Trịnh mạnh. Lại nữa, suốt từ Hải Vân đến sông Gianh đồn binh Trịnh đóng san sát, mà phải đánh đầu, đánh đuôi, đánh giữa cùng một lúc, cốt sao cho chúng không thể ứng cứu được cho nhau, việc mới mau thành được.

- Thật là diệu kế. Nguyễn Hữu Chỉnh thán phục nói:

- Đây là trận đầu ta đánh Trịnh Nguyễn Huệ tiếp tục nói để chắc thắng ta dùng uy và cả dùng mưu nữa.

Vũ Văn Nhậm nhấp nhỏm:

- Xin cho tôi một phen đem thủy binh đánh tan cái thành Phú Xuân ấy ra cho hả giận, can chi Long Nhương phải bận lòng.

Nguyễn Huệ nghiêm mặt:

- Tả quân sẽ được làm như ý nhưng dẫu là cháu, phép dụng binh phải nghiêm quân lệnh với cả người thân. Chính là ta cử Tả quân đem hai nghìn thủy binh đánh thẳng vào Phú Xuân đó. Còn quan thiếu phó, hãy lĩnh ba nghìn quân thủy tiến ra sông Gianh. Đến đấy, quan thiếu phó để một số quân áng ngữ mặt Bắc phòng quân Trịnh từ Nghệ An vào cứu, số quân còn lại tung ra đánh các đòn lẻ. Còn tôi và Vũ quân đô đốc đem quân theo đường độc đạo đánh Hải Vân cùng Tả quân đánh lấy Phú Xuân. Việc cứ thế mà làm.

Ngày hai tám tháng tư năm Bính Ngọ(25- 5- 1786) cả ba cánh quân Tây Sơn đều xuất trận.Đại binh của Nguyễn Huệ sau một tuần hành quân thần tốc đã đến đèo Hải Vân. Mặc dù quân Trịnh có đồn lũy kiên cố, lại án ngữ con đường độc đạo, nhưng bị đánh bất ngờ, chúng không kịp trở tay. Từ phút đầu, chủ tướng Trịnh là Hoàng Nghĩa Hầu đã bị tử trận. Trong chốc lát sáu nghìn quân Trịnh đã bị diệt; chỉ còn hai tên chạy thoát về Phú Xuân. Hạ xong đèo Hải Vân, Nguyễn Huệ cho quân nghỉ ngơi rồi bảo Nguyễn Hữu Chỉnh:

- Ta thắng trận đầu nhưng khó khăn còn nhiều. Dọc đường ta nghĩ kỷ rồi. Hoàng Đình Thể là bạn ông; vậy ông hãy viết thư dụ hắn về hàng.

Nguyễn Hữu Chỉnh đáon mưu của Nguyễn Huệ vội đáp:

- Tôi không hiểu, viết cho Hoàng Đình Thể nhưng lại gửi cho Phan Ngô Cầu. Kế ly gián ấy lũ tướng Trịnh sao tránh nổi!

Bức thư nguy hiểm ấy đã được Nguyễn Huệ trao cho một nghĩa quân đem đi ngay.

Đại binh của Nguyễn Huệ tiếp tục lên đường.

Đàn chay cầu phúc cực kỳ tốn kém do Phạm Ngô Cầu, chủ tướng Trịnh ở thành Phú Xuân thân đứng ra trông coi, được dựng ở chùa Thiên Mụ. Y theo lời thuật sĩ, để trừ được tai, cầu được phúc, đàn chay được mở đúng bảy ngay bảy đêm liền. Tất cả tướng lĩnh và quân sĩ theo lệnh Cầu, Phải chầu chực, phục dịch vô cùng vất vả. Chùa Thiên Mụ đêm ngày khói hương nghi ngút, chiêng trống điểm hồi, tướng sĩ nhộn nhịp vào ra đã bước sang ngày thứ sáu.

Sáng ấy, khi Phạm Ngô Cầu từ đàn chay bước ra, vẻ mặt thành kính thì chợt lính canh vào báo tin dữ: Tướng thủy đạo Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm đã bủa vây, đốt cháy tàu chiến của người Tây dương ở cửa Thuận An. Phạm Ngô Cầu chưa kịp định thần thì lại được tin quân bộ Tây Sơn do Nguyễn Huệ thân đốc suấtđã kéo gần đến thành, Phạm Ngô Cầu tái mặt, than:

- Ta mắc mưu thám tử của Nguyễn Huệ rồi!

Cầu vội chạy về thành nổi lệnh họp tướng sĩ phờ phạc vì mấy ngày phục dịch, cúng bái bàn cách đối phó. Vừa lúc ấy, Cầu nhận được thư dụ hàng của Nguyễn Hữu Chỉnh gửi cho Hoàng Đình Thể. Cầu rụng rời chân tay vội dìm thư ấy đi. Phút chốc quân thủy bộ Tây Sơn đã áp đến thành. Cầu nảy sinh ý muốn ra hàng quân tây Sơn. Nghĩ vậy, Cầu cử Hoàng Đình Thể lên mặt thành đốc chiến, còn hắn ở lại trong thành, mượn tiếng giữ thành để tuỳ cơ ứng biến.

Từ trên mặt thành, Hoàng Đình Thể cho bắn súng thần công dữ dội vào quân Tây Sơn, buộc Nguyễn Huệ phải lùi quân ra xa. Thủy quân Tây Sơn lập tức được điều đến. Nguyễn Huệ hạ lệnh ngừng chiến, cho quân nghĩ ngơi. Ngay sau đấy Nguyễn Huệ bỗng nảy ra ý định lợi dụng nước thủy triều về đên dâng lên cao để đánh thành. Quả nhiên, đêm về khuya, nước sông Huế dâng lên tràn ngập cả thành Phú Xuân. Lập tức, Nguyễn Huệ cho thuyền chiến áp sát lại rồi nổ súng dữ dội lên mặt thành.

Đạn súng Tây Sơn dày đặc đến nổi quân Trịnh không dám lên mặt thành. Cùng lúc ấy, quân bộ Tây Sơn xông lên vây chặt các cổng thành. Hoàng Đình Thể thấy nguy liền cùng bọn thuộc tướng Vũ Tá Kiên và hai con mở cửa thành đem quân ra nghênh chiến. Nhưng qua một trống canh, quân Hoàng Đình Thể hết thuốc đạn. Hoàng Đình Thể cho quân quay về thành lấy thuốc súng thì từ trên thành, Phạm Ngô Cầu đã treo cờ trắng xin hàng quân Tây Sơn.

Cổng thành cũng đóng lại. Nhìn thấy cờ trắng quân Tây Sơn phấn chấn reo hò dốc lòng đánh dữ. Đạo quân của Hoàng Đình Thể bỗng nhiên bị vây chặt. Vũ Tá Kiên cùng hai con Hoàng Đình Thể bị quân Tây Sơn lớp lớp xô đến như cơn lốc chém chết ngay giữa trận. Hoàng Đình Thể buộc phải tự tử trên mình voi chiến.

Diệt xong cánh quân của Hoàng Đình Thể, quân Tây Sơn hò reo phá cổng thành xông vào. Đốc thị Vũ Trọng đang đốc suất quân Trịnh ở trong thành bị giết ngay từ phút đầu. Không chống cự nổi, quân Trịnh bị giết hại không biết bao nhiêu mà kể. Phạm Ngô Cầu, chủ tướng thành Phú Xuân, tự trói mình, xe quan tài ra xin hàng. Vài trăm quân Trịnh trốn ra ngoài trốn ra ngoài thành bị dân chúng đem bắt nộp cho Nguyễn Huệ. Hơn hai vạn quân Trịnh chỉ còn một tên lính sống sót chạy về đồn dinh cát báo tin dữ. Đó là đêm Hai mươi tháng Năm năm Bính Ngọ (15-6-1786).

Nghe tin Phú Xuân thất thủ, quân Trịnh từ sông Gianh trở vào đều kinh hoàng. Mỗi khi thấy bóng quân Tây Sơn chúng đều bỏ trốn. Vì vậy, chỉ trong chín ngày kể từ khi đánh đèo Hải Vân lúc hạ được lũy Đồng Hới, quân Tây Sơn đã thu phục được cả một miền đất rộng lớn. Hơn ba vạn quân sĩ và tướng lĩnh Trịnh bị diệt gọn. Uy danh và thiên tài dùng binh của Nguyễn Huệ làm chấn động dư luận Đàng Ngoài. Chúa Trịnh và các đại thần văn võ mới nghe nói đến quân Tây Sơn đã thất sắc.

Nguyễn Huệ họp các tướng bàn việc đánh Thăng Long lật đổ cơ đồ nhà Trịnh để thống nhất giang sơn. Nguyễn Hữu Chỉnh vốn có tham vọng trở lại Bắc Hà hăng hái thưa:

- Bắc Hà bây giờ tướng biếng nhác, quân kiêu rông, triều đình không có kỷ cương, lòng dân oán giận. Vậy nhân dịp này kéo quân ra dẹp kẻ loạn vong, vỗ yên xã tắc là việc chẳng những nên làm mà phải làm gấp.

Nguyễn Huệ vui vẻ:

- Lật đổ họ Trịnh, quy giang san về một mối, làm cho nước thịnh dân giàu, từ lâu vẫn là chí hướng của ta. Nhưng nhân tài Bắc Hà còn nhiều ta chẳng nên khinh suất.

Nguyễn Hữu Chỉnh vội nói:- Nhân tài đàng ngoài chỉ có mình Chỉnh này mà thôi. Chỉnh đã rồi thì nước rỗng không. Xin tướng quân quyết một bề cho.

Từ lâu thấy Chỉnh có tài nhưng cũng là người quỷ quyệt, nhìn vậy, Nguyễn Huệ răn đe:

- Nhân tài Bắc Hà chẳng đáng ngờ người nào khác, có chăng chỉ đáng ngờ ông.

Nghe lời cảnh cáo ấy, Nguyễn Hữu Chỉnh thất sắc, nói chữa:

- Ý tôi muốn nói quá đi như thế. Tôi đã là một tên ngu đần hèn mọn; vậy mà ngoài Bắc không ai hơn tôi, đủ biết ngoài ấy vô tài đến thế là cùng!

Nguyễn Huệ ngọt ngào bảo Chỉnh:

- Bắc Hà bao lâu có vua lại có chúa, đó là việc xưa nay chưa từng có. Họ Trịnh tiếng rằng phu chính nhưng nắm hết binh quyền, mặc sức tác oai tác quái. Vì vậy, tiến đánh Thăng Long, trước phải mượn đại nghĩa phù Lê diệt Trịnh để trấn an dân chúng. Ông hãy làm việc đó, việc loan truyền tin ấy quan trọng không kém việc hành binh.

- Tướng quân mưu lược như thần lại nhìn xa thấy rộng, xã tắc hẳn phải được thấm nhuần ơn sâu. Vậy, tướng quân đem binh ra là điềm đại hạnh cho dân đó.

Nguyễn Huệ quyết định đem binh đánh Thăng Long.

Lòng đã quyết, Nguyễn Huệ một mặt cho người phi báo với Nguyễn Nhạc ý định của mình, mặt khác hạ lệnh tuyển quân, sửa sang cầu đường, chuẩn bị tiến ra Bắc. Hưởng ứng nghĩa lớn, dân chúng Thuận Hóa nô nức tòng quân. Trai tráng mười lăm tuổi trở lên đều xin nhập ngũ. Phụ lão, phụ nữ bỏ việc nhà đi sửa sang đường sá, cầu cống, xay thóc giã gạo làm lương ăn cho quân Tây Sơn. Và trước lúc xuất quân Nguyễn Huệ đã phác ra kế tiến đánh Thăng Long thần tốc, nưu lược và hết sức tỉ mỉ. Theo kế ấy, Nguyễn Huệ chia quân ra làm ba đạo: Một đạo do Nguyễn Lữ đốc suất giữ Thuận Hóa, còn hai đạo tiến ra Bắc Hà.

Trong hai đạo này, đạo quân tiên phong do Nguyễn Hữu Chỉnh đốc suất gồm bốn trăm chiến thuyền sẽ tiến ra đánh chiếm Vị Hoàng và dọc đường đi, củ các toán du binh đánh úp các đồn binh Trịnh dọc bờ bể. Đạo quân thứ hai, cũng là đạo quân chủ lực do Nguyễn Huệ thống lĩnh, Vũ Văn Nhậm làm phó tướng, sẽ theo hai đường thủy bộ tiến ra Nghệ An, Thanh Hóa. Khi đạo quân tiên phong lấy được Vị Hoàng, đạo quân chủ lực sẽ tiến ra Bắc cùng đạo quân tiên phong tiến đánh Thăng Long.

Vạch ra kế đánh chu toàn ấy, Nguyễn Huệ đã tiến gần đến thắng lợi.

Tháng sáu năm Bính Ngọ, Trịnh Khải được tin Phú Xuân thất thủ liền triệu quần thần bàn việc đối địch. Nghe uy danh Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn, ai nấy đều kinh hãi không dám cử binh đi cứu viện. Cuối cùng tể tướng Bùi Huy Bích nói:

- Thuận Hóa vốn không phải là bờ cõi của triều đình. Tiên triều hao phí bao nhiêu của cải trong nước mới lấy được xứ ấy, rồi lại phải đm quân đi đóng giữ, rốt cuộc chẳng có ích gì. Ngày nay mất đi cũng là may. Bây giờ chỉ nên đóng đồn ở trấn Nghệ An và định rõ cương vực cũ mà thôi. Ta lấy sự mất Thuận Hóa làm may ắt họ phải lấy đất của ta làm điều đáng ngại. Như vậy hẳn là ta không phải lo gì nữa.

Quần thần đều cho làm phải. Vì vậy, Trịnh Khải cử Trịnh Tự Quyền làm thống tướng đem quân lính hai mươi bảy cơ vào Nghệ An giữ đất. Nhưng quân lính chần chừ, đòi thay thống tướng nên mười ngày sau vẫn chưa xuất quân được. Đến khi Trịnh Tự Quyền cất quân ra khỏi Thăng Long nửa ngày đường thì phủ chúa kinh động trước tin dữ: Tiền quân Tây Sơn đã lấy được thành Vị Hoàng. Trịnh Khải vội mật sai Trịnh Tự Quyền đem quân xuống giữ Kim Động (Hải Dương) rồi truyền lệnh cho trấn thủ Sơn Nam Đỗ Thế Dân đem quân bộ xuống chặn quân Tây Sơn ở bờ sông Phù Sa. Đinh Tích Nhưỡng đốc lãnh các quân thủy đạo đang ở Hải Dương cũng được lệnh đến trấn giữ cửa Lục Môn.

Nhưng chỉ mấy ngày sau, tin cấp báo dội đến Soái phủ. Ngày Mười bảy tháng Bảy năm 1786, hơn một ngàn chiến thuyền của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đã ồ ạt kéo đến Vị Hoàng mạnh như thác lũ. Rồi ngày hôm sau, đại quân Nguyễn Huệ tiến đánh trấn Sơn Nam.

Cả kinh thành náo loạn, Trịnh Khải đứng ngồi không yên. Quả vậy, xẩm tối ngày Mười tám tháng Bảy năm 1786, thủy quân Tây Sơn tiến nhanh như gió đã áp đến thế trận hình chữ "Nhất" chắn ngang sông LụcMôn của Đinh Tích Nhưỡng. Trước hết, Nguyễn Huệ cho năm chiến thuyền lớn, giương buồm thuận gió, xông vào tiền đội quân Trịnh. Hốt hoảng Đinh Tích Nhưỡng cho nổ súng, bắn tên dữ dội vào các thuyền chiến Tây Sơn. Một chiếc đắm. Quân Trịnh đắc ý càng bắn vô hồi kỳ trận.

Nhưng thuyền chiến Tây Sơn vẫn lừ lừ tiến. Cuối cùng quân Trịnh mới biết thuyềnTây Sơn không người, chân sào trên thuyền chỉ là bù nhìn. Nhưng quân Trịnh đã bắn cạn thuốc đạn. Không chậm trễ, Nguyễn Huệ thúc đại quân xông vào thế trận quân Trịnh như vũ bão. Thủy quân Trịnh không chống đỡ nổi kêu la thảm thiết tranh nhau bỏ chạy. Quân bộ của Đỗ Thế Dân xông tới hộ sức với Đinh Tích Nhưỡng liền bị đại bác quân Tây Sơn bắn hai bên bờ nổ rền như sấm. Rồi cùng một loạt, quân Tây Sơn nhảy lên hai bên bờ vừa reo hò, vừa tung hỏa hổ vào đội ngũ quân Trịnh.

Tàn quân Đinh Tích Nhưỡng, Đỗ Thế Dân bỏ chạy tán loạn. Ở Kim Động, Hai bảy cơ quan của Trịnh Tự Quyền nghe súng nổ rầm rĩ suốt đêm trên sông Lục Môn cũng vội vàng bỏ trốn. Chỉ qua một trận, ba đạo quân Trịnh hoàn toàn ta rã. Đó là đêm Mười chín tháng Bảy năm 1786.

Tin thất trận của các đạo quân Trịnh tới tấp dội về Thăng Long. Văn võ triều đình cuống cuồng lo cất giấu của cải, đưa vợ con đi trốn. Trịnh Khải bãi chức tể tướng của Bùi Huy Bích, bắt Bích ra trận đốc chiến và cử Nguyễn Lệ lên thay. Nguyễn Lệ dâng kế hay, nhưng không kịp thực hiện, đã bị bọn kiêu binh sẵn ghét tụ họp làm loạn rồi đi tìm bắt, Nguyễn Lệ phải chạy trốn.

Trịnh Khải tức tốc triệu quần thần họp bàn kế giữ kinh thành. Trần Công Xán quả quyết:- Giặc kéo quân vào sâu xứ lạ đó là điều mà trong binh pháp rất kỵ. Nên dữ cho chúng tới gần nữa, rồi đánh một trận mà tiêu diệt cho hết, đó là cài thuật kỳ diệu trong phép dùng binh. Vả lại, kinh sư là cái gốc của thiên hạ, rời bỏ thì sẽ đi đâu? Chẳng những thế, nếu kiệu chúa lật đật ra ngoài thành, tất lòng người sẽ phải lìa tan, ấy là đem nước mà trao cho giặc vậy. Bây giờ chỉ nên xin thái phi và cả sáu cung hãy tạm lánh ra ngoài thành mà thôi.

Cái kế không biết mình biết người, không hiểu binh pháp của Xán được Trịnh Khải và đám quần thần mất hết nhuệ khí khen hay. Y theo kế ấy, Trịnh Khải vội triệu quân Thạc Hoàng Phùng Cơ đang ở Sơn Tây về kinh hộ vệ. Vào ra mắt Trịnh Khải, danh tướng Hoàng Phùng cơ nói cứng:

- Bẩm chúa thượng! Xin chúa thượng yên lòng, chín cha con tôi quyết đem cái chết để đền ơn chúa, chứ không chịu cùng sống với giặc.

Hoàng Phùng Cơ lúc ấy chỉ có năm trăm nghĩa dũng. Trịnh Khải phải bỏ năm nghìn lạc bạc cho Cơ mộ quân và mộ một ngày được một ngàn lính cũ.

Ngay sau đấy, Trịnh Khải cử Ngô Cảnh Hoàn và Nguyễn Trọng Yêm quản lĩnh đội Tứ Thị thủy sư tới dàn chiến thuyền ở sông Thúy Ái; sai Hoàng Phùng Cơ cùng tám con đem quân bộ tới giữ hồ Vạn Xuân, để nếu cần sẽ tiếp viện cho thủy quân ở Thúy Ái. Còn Trịnh Khải, mặc nhung phục, cưỡi voi đem hết binh lính trong thành kể cả đội tựơng binh môt trăm con ra quảng trường lầu Ngũ Long bày thế trận chống giữ kinh thành. Để giữ mình, Trịnh Khảin cho bầy voi trận ở ngay quảng trường đề phòng tai biến.

Về phía Nguyễn Huệ, ngay sau khi hạ xong phố Hiến, thủ phụ trấn Sơn Nam, liền tiến quân ngay. Thuyền chiến Tây Sơn được gió tiến như bay về phía kinh thành. Ngày hai mươi sáu tháng sáu âm lịch (ngày hai mươi mốt tháng bảy năm 1786) thủy quân Tây Sơn đến bế Nam Dư. Nguyễn Huệ cho một cánh quân vòng lên đánh úp thủy quân Trịnh ở bến Thúy Ái. Quân Trịnh lúc ấy tưởng quân Tây Sơn còn ở xa nên neo thuyền lại, bỏ đi chơi tản mác trên bãi. Vì vậy, khi quân Tây Sơn đến, binh lính Trịnh không kịp xuống thuyền, phần bị giết, phần bỏ chạy hết.

Diệt xong đạo thủy quân ở Thúy Ái, cánh quân Tây Sơn ấy tiến nhanh về hồ vạn xuân. Cũng như quân Trịnh Thúy Ái, quân Hoàng Phùng Cơ không ngờ quân Tây Sơn đã đến, nên kinh hãi bỏ khí giới mà chạy. Quân Tây Sơn bủa vây, đánh ép lại khiến quân Trịnh bỏ chạy bị giết hại, xác chết thành đống, Sáu con Hoàng Phùng Cơ tử trận. Hoàng Phùng Cơ và hai con may mắn lắm mới thoát chết. Cùng lúc ấy thủy quân Tây Sơn vẫn băng băng tiến về kinh thành rồi đổ bộ lên bến Tây Luông, đánh mạnh vào thế trận của Trịnh Khải. Quân Trịnh nổ súng.

Trịnh Khải phất cờ thúc quân đánh trả nhưng tướng sĩ Trịnh nhớn nhác nhìn nhau không ai can tiếng. Lợi dụng cơ hội ấy. Lợi dụng cơ hội ấy, quân Tây Sơn xông vào như cơn lốc, tung hỏa hổ đánh giết quân Trịnh. Phút chốc quân Trịnh đại bại. Trịnh khải thấy bên mình chỉ còn con Voi chiến, vội cởi bộ nhung phục, tụt xuống ngồi núp trong ngăn hòm da ở mé sau bành voi rồi co đầu voi chạy trốn về phủ. Nhưng phủ chúa Tây Sơn đã chiếm xong, Trịnh Khải hồn siêu phách lạc bỏ chạy về Sơn Tây.

Nguyễn Huệ đã lấy được Thăng Long, lật đổ cơ đồ nhà Trịnh. Đó là ngày Hai mươi sáu tháng sáu năm Bính Ngọ, tức (21- 7- 1786).

Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long, một mặt hạ bệ chiêu an, cấm ngặt quân sĩ không được phách nhiễu, xâm phạm đến tài sản của dân, mặt khác, cho bắt giết bọn côn đồ, trộm cướp, khiến cho dân chúng kinh thành cảm cái ơn ấy đã coi Nguyễn Huệ là ân nhân. Lòng người đã yên, chợ lại họp, phố đông vui, dân chúng mừng thấy lại cảnh yên hàn và thêm yêu mến người anh hùng áo vải tài năng và trí lớn trùm thiên hạ nhưng cũng là người nhân từ, chuộng công bằng.

Giữ đúng lời hứa phù Lê, Nguyễn Huệ vào ra mắt vua Lê Hiển Tông, cung kính nói:

"Tôi vốn là kẻ áo vải ở Tây Sơn, vì đại nghĩa mà nổi dậy đánh Nguyễn diệt Trịnh. Họ Trịnh vô đạo, hiến đáp hoàng gia nên đánh được Trịnh là hợp lòng dân và nhờ oai đức của bệ hạ vậy".

Vua Lê Hiển Tông không ngờ con người đánh trăm trận trăm thắng lại khiêm tốn dễ ưa đến thế! Vua nói:

- Đánh được Trịnh ấy là võ công của tướng quân cả, chứ quả nhân nào có tài đức gì!

- Tôi chỉ cốt phò vua để xã tắc sớm được hưởng sớm được hưởng cảnh thái bình đâu dám kể công. Vậy, xin bệ hạ từ bây giờ trở đi nắm giữ triều chính, khiến cho trong ấm ngoài êm, tôi cũng được ơn nhờ.

Ngày bảy tháng bảy năm Bính Ngọ(31-7-1786), Nguyễn Huệ cùng các tướng Tây Sơn và các quan văn võ Bắc Hà vào triều chúc mừng vua Lê. Vua Lê sắc phong Nguyễn Huệ làm Nguyên soái phù chính lực vũ. Uy Quốc Công và trao binh quyền Bắc Hà cho một vị tướng nông dân.

Thoát khỏi sự ràng buộc của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ có dịp thi thố tài năng, điều khiển việc triều chính. Vì vậy, xung quanh chiến công của Nguyễn Huệ là vừng hào quanh của trí tuệ. Và, cả mặt này nữa, Nguyễn Huệ càng tỏ rõ người có tài kinh bang tế thế, giỏi việc trị nước an dân, khiến cho dân chúng Bắc Hà vô cùng yêu kính.

Nhưng, Nguyễn Nhạc vốn không ưng cho Nguyễn Huệ đánh ra Thăng Long, biết vậy nói với quần thần:

- Nếu ta không thân hành ra Bắc Hà bắt hắn (Nguyễn Huệ) phải về, ấy là thả hùm ra khỏi cũi, không bao giờ còn có thể nuôi dạy được nữa.Nguyễn Nhạc tức tốc đem năm trăm quân ra thành Phú Xuân. Tại đây, Nhạc lấy thêm hai nghìn quân nữa rồi đi gấp ra Thăng Long. Ngày năm tháng Tám Bính Ngọ (ngày Hai mươi sáu tháng Tám năm 1786), Nguyễn Nhạc tời Thăng Long và được Nguyễn Huệ trao lại toàn bộ binh quyền. Chỉ cốt có thế, nên ngay sau đấy, Nguyễn Nhạc đem quân Tây Sơn cùng Nguyễn Huệ về Nam.

Nguyễn Huệ Đem quân về Phú Xuân, tình hình Bắc Hà bỗng trở nên hỗn loạn. Trịnh Lệ, con Trịnh Doanh và Trịnh Bồng cấu kết với Đinh Tích Nhưỡng ức hiếp dân chúng, toan phế bỏ kẻ kế vị vua Lê Hiển Tông là Lê Chiêu Thống, lập vua khác. Lê Chiêu Thống phải mật triệu Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân từ Nghệ An ra cứu giải. Nguyễn Hữu Chỉnh diệt được Trịnh Bồng nhưng lại lộng hành, đưa bè đảng chân tay vào giữ các chức trong triều ngoài trấn, khuynh loát triều chính, chẳng khác chúa Trịnh, khiến Bắc Hà rối loạn.

Nhưng ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ lại phải bận tâm về chuyện khác. Nguyên do, Nguyễn Nhạc thấy uy tín Nguyễn Huệ lẫy lừng, dân chúng Thuận Quảng sùng ái coi Nguyễn Huệ là đức chúa nên đem lòng ghen ghét, gửi thư hăm dọa trị tội Nguyễn Huệ. Thấy rõ, nếu cứ chiều theo ý Nguyễn Nhạc mãi, cơ đồ nhà Tây Sơn có cơ sụp đổ, Nguyễn Huệ truyền hịch vạch rõ sự sai trái của Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc đem quân đi đánh Nguyễn Huệ. Buộc lòng Nguyễn Huệ phải hạ lệnh tuyển quân rồi kéo quân về Qui Nhơn vây hãm Nguyễn Nhạc trong Hai tháng, đòi Nhạc phải từ bỏ ý muốn kìm chế mình. Nguyễn Nhạc hoảng sợ phải nhượng bộ, xin giảng hòa.

Thoát khỏi sự ràng buộc của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ sắp đặt mọi công việc triều chính theo ý mình và rảnh tay lo liệu đến nội tình Bắc Hà. Thấy Nguyễn Hữu Chỉnh phản bội và ra mặt chống đối mình, tháng Một năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Huệ cho Vũ Văn Nhậm và Ngô Văn Sở đem hai vạn quân ra hỏi tội Chỉnh. Nhưng giết được Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lại kiêu ngạo, lộng hành, tự ý đúc ấn chương riêng, chuyên quyền định đoạt mọi việc, âm mưu làm phản triều Tây Sơn. Vì vậy tháng Tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ thân đốc lĩnh bộ binh và tượng binh đi gấp, Mười ngày tới Thăng Long, bắt giết Vũ Văn Nhậm.

Nguyễn Huệ gấp rút chia chức đặt quan, chỉnh đốn việc quốc chính lựa chọn nhân tài, khích lệ họ ra giúp nước. Và, chính bằng sức mạnh quả quyết, dứt khoát, thẳng thắn và tài dùng người của Nguyễn Huệ, nên chỉ trong một thời gian ngắn, chúa Tây Sơn đã giải quyết xong những việc lớn ở Bắc Hà. Nguyễn Huệ không thể ở lại Bắc Hà lâu vì đàng trong Nguyễn Ánh, vào lúc ấy đã đem quân đánh phá miền đất Gia Định rất dữ dội. Từ tháng năm trước, vì sợ chết, Nguyễn Lữ đã trao binh quyền cho tướng Tây Sơn Phạm Văm Tham rồi hèn nhát rút quân về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ vội về Phú Xuân đễ lo việc diệt Nguyễn Ánh.

Hưởng ứng lệnh tuyển quân của Nguyễn Huệ, sáu vạn trai tráng vùng Thuận Quản nô nức nhập ngũ. Sau mấy tháng dốc sức luyện binh, Nguyễn Huệ đã có một đội quân tinh nhuệ. Kế tiến đánh Nguyễn Ánh cũng được chúa Tây Sơn vạch xong. Nhưng đàng ngoại Lê Chiêu Thống đã rước hai mươi chín vạn quân Thanh tiến vào Bắc Hà. Họa mất ước đến gần. Vì vậy, sau phút đắn đo, cân nhắc, người anh hùng áo vải Tây Sơn quyết định đem toàn lực đánh quân thanh truớc. Chí đã quyết, Nguyễn Huệ viết bức thư dặn dò phương lược đánh giặc Ánh trao cho một tướng quân thân tín mang gấp vào Gia định cho Phạm Văn Tham. Vừa lúc ấy từ Bắc Hà, đô đốc Nguyễn Văn Tuyết theo lệnh Ngô Văn Sở chạy ngựa trạm về Phú Xuân, ra mắt Nguyễn Huệ, báo tin dữ. Nguyễn Huệ đập bàn quát:

- Đàn Ngô cầu kia vì khinh suất sẽ phải mua lấy cái chết.

Ngay ngày hôm sau, hai mươi lăm tháng một năm mẫu thân hai mươi hai tháng mười hai năm 1788, Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Chiều ý các tướng và để làm sáng tỏ danh nghĩa đối với cả nước, tự nhận trách nhiệm đối với dân chúng, trước khi xuất quân, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung.

Ngày hai mươi chín tháng Một năm mẫu thân hai mươi sáu tháng mười hai năm 1788 đại binh của vua Quang Trung Nguyễn Huệ tới Nghệ An, Nguyễn Huệ cho quân đóng lại hơn mười ngày. Tại đây, Nguyễn Huệ viết ba đạo bầm văn giả, giải bày sự tình phải lên thay vua Lê cốt làm kiêu lòng giặc và cử Trần Dang Bính cầm đầu đoàn sứ thần trao cho Tôn Sĩ Nghị. Đồng thời, Nguyễn Huệ hạ lệnh tuyển quân. Vì đại nghĩa, vì kính yêu Nguyễn Huệ, hàng vạn trai tráng Nghệ An gia nhập nghĩa quân Đoàn quân áo đỏ đông đến mười vạn với đội tượng binh hai trăm voi chiến. Bằng số ấy, Nguyễn Huệ chia làm năm doanh: Tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Binh sĩ mới tuyển ở Nghệ An chưa quen chiến trận, chưa được thao luyện, chấn, vững lòng vì chính là Nguyễn Huệ thân thống lĩnh đội trung quân ấy.

Phiên chế xong quân ngũ, vua Quang Trung Nguyễn Huệ làm lễ duyệt binh lớn với ở ngay tại trấn doanh Nghệ An. Vào đầu buổi lễ, sau mấy lời an ủi, vỗ về tướng sĩ, Nguyễn Huệ bỗng cất cao giọng hỏi:

- "Quân Thanh kéo sang xâm lấn, hiện đang chiếm cứ Thăng Long, sát hại dân lành, các người đã biết chưa...?

Hàng quân chấn động,. Người hiền lanh nhất cũng đỏ bừng nét mặt vì giận dữ.

Nguyễn Huệ giọng cang như chuông đồng, tiếp tục nói:

- "...Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy đều đã phân biệt rõ ràng, phươ Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị...Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nuớc ta, giết hạinhân dân, vơ vét của cải, nông nổi ấy không thể chịu đựng được ai cũng muốn đuổi chúng đi...Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước ta lập thành quận huyện, không biết trong gương mấy người Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra. Các người đều là kẽ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, đễ dựng nên công lớn..."

Hàng quân im phăng phắc. Ai nấy đều cảm kích, muốn được xả thân vì nước theo lời hiệu triệu của người anh hùng áo vải.

Ngay sau lễ duyệt binh, Nguyễn Huệ vẫn đội mũ giáp trụ, mặc chiến bào, cưỡi voi thúc quân ra Bắc. Ngày hai mươi tháng chạp Năm Mậu Thân(Mười lăm tháng Một năm1789), đại quân của Nguyễn Huệ đến Tam Điệp. Ngô Văn sở và các tướng Tây Sơn ở đấy, đi đón vua Quang Trung, đều mang gươm trên lưng xin chịu tội. Nguyễn Huệ hài lòng trước thái độ của những tôi trung. Vua quở trách mà không giận dữ:

- Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta giao cho toàn hạt, lại được tuỳ tiện làm việc. Vậy mà giặc đến, không đánh nổi một trận, mới nghe thấy đã chạy trước. Binh pháp dạy rằng: Quân thua chém tướng. Tội các ngươi đáng giết một vạn lần.

Nguyễn Huệ nhìn các tướng rối hạ giọng:

- Song ta nghĩ các người đều là hạng vũ dũng chỉ biết gặp giặc là đánh, còn việc tùy cơ ứng biến thì không có tài. Cho nên ta để Ngô Thì Nhậm ở lại làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng dân chưa phục. Thăng long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước ta ra đánh ở đất, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi, đó là chứng cớ rõ ràng. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ nội ứng cho chúng, thì các ngươi còn biết xoay sở làm sao được.

Các tướng sĩ lắng nghe như nuốt từng lời. Nguyễn Huệ đưa mắt tìm Ngô Thị Nhậm rồi thong thả, tiếp:

- Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng. Khi mới nghe nói ta đã đoán là do Ngô Thị Nhậm chủ mưu. Sau hỏi Văn Tuyết thì đúng như vậy...

Và, vượt ra ngoài sự xét đoán của mọi người từ trước lúc giáp chiến với giặc Thanh, ngay dưới chân núi Tam Điệp, Nguyễn Huệ đã lường trước mọi việc phải xảy đến một cách thần kỳ:

- Lần này ta thân hành cầm quân Nguyễn Huệ, giọng cả quyết nói phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, chẳng qua mười ngày là có thể đánh được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải phúc cho dân, nỡ nào làm như vậy?

Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi binh đao. Việc ấy phi Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được.

Phải là người cực kỳ minh mẫn, có đầu óc chính trị sắc nhạy và cặp mắt chiến lược tinh tường, tin ở mình, tin ở các bầy tôi, lường trước công việc mới dám phó thác việc lớn như thế cho Ngô Thì Nhậm. Rồi Nguyễn Huệ bỗng đổi giọng ngọt ngào, rộng lượng nói với tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân:

Các khanh làm vậy cũng là mẹo nhử giặc đó.Thôi, nay ta hãy cho đổi tội lập công, trông mong ỏ các người ráng sức sau này.

Các tướng Tây Sơn sụp xuống lạy tạ ơn. "Nước cờ tam điệp" đã được chính Nguyễn Huệ phân tích, đánh giá. Ai nấy đều cảm kích và thêm thán phục tầm hiểu biết cực kì sâu rộngvà tài dùng người của Nguyễn Huệ.

Xuất quân từ hai mươi tám tháng Mười năm Mậu Thân(Hai mươi lăm tháng Mười Một năm 1788) đến lúc nghe tin Ngô Văn Sở rút về Tam Điêp, Tôn sĩ Nghị quát viên quan theo hầu:

Các ngươi sao cứ nhu nhược để chúng chạy chốn một cách rảnh rang? Bây giờ đại binh đã đến địa giới nước mình mà các ngươi vẫn tuyệt nhiên không làm nên công trạng gì. Như thế, còn gọi là nước có người được chăng?

Vũ Trinh viên quan hầu ấy, khúm núm đáp:

Nước nhỏ này tự mình không làm được việc, mới đến nỗi phải gõ cửa ải cầu cứu... Được tin thiên binh đến, bọn chúng chưa biết thực hư thế nào, nên hãy thu quân tạm lánh. Một bên kỳ tướng còn kiệt hiệt như thế, huống chi tên đại tù trưởng của chúng. Nếu không dùng đạo binh cực lớn mà đánh, làm sao có thể bắt sống được chúng?

Tôn Sĩ Nghị giọng kiêu căng, tự đắc:

Theo ta xem xét thì chúng chỉ như hạng trâu dê, sai một người đem thừng buộc lấy cổ mà lôi về, hẳn cũng không khó gì. Đợi khi quân ta kéo đến La Thành, nhổ bãi nước bọt xoa tay là làm xong việc, Ngươi hãy chờ mà xem.

Khi tôn Sĩ Nghị đem quân vằo Thăng Long, Lê Chiêu Thống đội mũ miện, mặc áo long cổn, quỳ ở giữa sân điện Kính Thiên để đón. Tôn Sĩ Nghị sau khi chia quân đóng ở quanh thành, dặn dò hiệu lệnh liên lạc liền tuyên đọc tờ sắc của vua Thanh phong Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương.

Từ đấy, ngày ngày sau các buổi chầu, Chiêu Thống lại cưỡi ngựa cùng đám quần thần tới chờ ở doanh của Nghị để để nghe truyền việc quân việc nước. Dân chúng kinh thành thấy vậy than rằng:

"Nước Nam ta từ khi có đế vương tới nay chưa thấy ông vua nào luồn cúi đê hèn đến thế".

Được thế, Tôn Sĩ Nghị càng ngông nghênh, bắt Lê Chiêu Thống ngày ngày phải tiến ngon gái đẹp, tiệc tùng suốt ngày đêm. Bọn tướng Thanh theo gương Nghị, cũng mặc sức ăn chơi cướp bóc. Vì vậy, nơi nào có quân Thanh, nạn cướp chợ, hiếp dâm không ngày nào không xảy ra, cũng không ngày nào Tôn Sĩ Nghị không giết đến ba, bốn mươi mạng người lương thiện. Dân chúng kinh thành căm thù bọn sài lang, bọn bán nước đến tận xương tủy. Lê Chiêu Thống cũng vùi đầu vào việc báo ân trả oán mọi việc mặc Tôn Sĩ Nghị.

Nhưng trong số các quan lại triều Lê có người tỏ ý lo ngại vì thấy Tôn Sĩ Nghị không nhắc gì đến việc đem quân đánh Nguyễn Huệ. Lê Chiêu Thống bày tỏ nỗi lo lắng ấy. Nhưng Tôn Sĩ Nghị gạt đi:

- Việc gì phải vội vã như vậy? Ví như thò tay lấy đồ vật ở trong túi, đến sớm lấy sớm, đến muộn lấy muộn đó mà thôi. Bây giờ đã sắp hết năm, đại quân xa xôi tới đây, cần phải nghỉ ngơi, không nên đánh vội. Giặc gầy mà ta đang béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt.

Tuy nói vậy, nhưng Tôn Sĩ Nghị không dám bề trễ nải việc quân. Ngoài các đồn cũ, Nghị sai đắp lũy đất, một ở bờ Bắc sông Nguyệt Quyết, huyện Thanh Liêm, một ở làng Nhật Tảo, huyện Duy Tiên, một ở làng Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì rồi chia quân ra đóng giữ.

Tình hình ngày một gấp. Hoạt động của quân Tây Sơn ở Nghệ An lọt đến tai Lê Chiêu Thống. Chiêu Thống hoảng sợ liền cùng bọn Lê Quýnh đến quân doanh Tôn Sĩ Nghị tha thiết xin xuất quân. Tôn Sĩ Nghị chỉ vào mặt Lê Quýnh mắng:

- Người nước mày nay quả thật không thể trông cậy được, thế thì lời cung khai của mày trước đây ra sao?

Rồi quay sang Lê Chiêu Thống, Nghị tiếp:

- Tự vương trẻ tuổi, chưa từng trải công việc, trước đây tới đón chào ta ở Lạng Sơn, sao không nói cho rõ? Nay đã lỡ bỏ cơ hội ấy để chúng có thì giờ thong thả mà bày mưu đặt chước, cách trị chúng cần phải tính toán cho chu đáo, không thể hấp tấp. Vả lại, đã định đến sang xuân vào ngày mùng sáu thì sẽ xuất quân, như vậy thì cũng không còn xa gì nữa. Nếu muốn đi gấp thì cho phép vua tôi nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được.

Thất thểu ra về, Lê Chiêu Thống cử Lê Quýnh cầm quân. Lê Quýnh vin cớ không muốn xa vua, (thực ra là không dám ra trận)gợi ý với trấn thủ Sơn Tây là Hoàng Phùng Tứ trao cho trọng trách. Tứ được lệnh đem quân xuống đóng ở Gián Khẩu chặn đường quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long.

Ngày hai mươi ba tháng chạp năm Mậu Thân (Mười tám tháng Một năm 1789), thám tử quân Thanh chạy ngựa trạm về Thăng Long cấp báo: Quân Tây Sơn đang tuyển binh lương ở Nghệ An sửa soạn đánh Bắc Hà. Tôn Sĩ Nghị vội cho quân đi đóng giữ các nơi hiểm yếu trên khắp bốn ngả đường, còn đại quân thì sáng chiều tập dượt để chuẩn bị xuất trận. Tôn Sĩ Nghị đặc trao cho đề đốc Hứa Thế Hanh quyền thống lĩnh các đạo quân phía nam Thăng Long và điều thêm nhiều quân cho mặt này.

Các thám mã lanh lợi của quân Tây Sơn đã kịp báo cho Nguyễn Huệ cách bố phòng và ngày xuất quân của giặc. Vì vậy, khi tướng sĩ nhà Thanh bắt đầu nghĩ đón tết thì Nguyễn Huệ, căn cứ vào sự bố phòng của giặc, phiên chế quân ra làm năm đạo, chia đường tiến binh: Đạo trung quân do Nguyễn Huệ thống lĩnh có Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân làm tướng tiên phong, Hán hổ hầu đi hậu quân đốc chiến, sẽ đánh thẳng vào nơi tập trung binh lực của giặc ở phía nam thành.

Hai đạo hữu quân, một đạo do đại đô đốc Bảo thống lĩnh đi theo đường Sơn Minh ra làng Đại Áng cùng đạo trung quân đánh đồn Ngọc Hồi; một đạo do đô đốc Long thống lĩnh đi xuyên qua Chương Đức đến làng Nhân Mục để đánh thẳng vào đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống rồi theo cửa Tây, tiến thẳng vào Thăng Long vây đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị. Hai đạo tả quân, một đạo quân thủy do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết thống lĩnh tiến vào sông Lục Đầu, diệt cánh quân cần vương của Lê Chiêu Thống rồi tiến lên đánh vào sườn phía đông kinh thành, trên bờ sông Hồng; một đạo thuy quân khác do đô đốc Lộc thống lĩnh sau khi tiến vào sông Lục Đầu sẽ đi gấp lên các hạt Phượng Nhãn, Lạng Giang, Yên Thế chặn đường rút chạy của giặc.

Trước ngày khởi đại binh đánh những trận lớn chưa từng thấy này, Nguyễn Huệ làm việc khao quân rất linh đình. Trước bữa tiệc, Nguyễn Huệ nói với tướng sĩ, giọng náo nức, quả quyết:

- Ngày xuất quân rửa điều xấu hổ do Lê Chiêu Thống gây ra đã đến. Nay ta hãy làm lễ ăn tết Nguyên đán trước, đợi đến ngày mùng bảy tháng Giêng vào thành Thăng Long, sẽ mở tiệc lớn. Các ngươihãy ghi lấy lời ta nói xem có đúng thế không? Các ngươi có quyết quét sạch giặc Ngô cẩu ra khỏi Thăng Long như quét rác rưởi trong nhà mình không?

Hơn mười vạn tướng sĩ nhất loạt đáp lại như sấm động:

- Xin quyết xung trận đánh bọn Ngô cẩu biết uy danh của hoàng đế nước Nam ta.

Ngay sau tiệc lớn, năm đạo quân sắc phục đỏ rầm rộ lên đường.

Ngay đêm hôm xuất quân (hai mươi lăm tháng Một năm 1789), đạo trung quân do Nguyễn Huệ thống lĩnh như từ trên trời rơi xuống vây chặt đồn Gián Khẩu do quân tướng nhà Lê đóng giữ. Không một tên quân nào chạy thoát. Nguyễn Huệ tiếp tục cho tiến binh. Một cánh quân do thám của giặc Thanh bất chợt gặp tiền quân của Ngô Văn Sở. Cả bọn giặc ấy nữa, cũng bị bắt gọn. Nửa đêm mùng ba tháng Giêng năm Kỷ Dậu (hai mươi tám tháng Một năm 1789) đạo trung quân đã vây chặt đồn Hạ Hồi mà quân giặc không hề hay biết. Nguyễn Huệ cho bắc loa truyền hịch, quân lính thưa vang, tưởng như có hàng chục vạn người đang sắp xông vào đồn.

Quân Thanh kinh hoàng kéo cờ trắng, lốc nhốc mở cửa thành xin hàng. Ngày mồng bốn tháng Giêng âm lịch (ngày Hai mươi chín tháng Một năm 1789), đồn Ngọc Hồi, đồn kiên cố nhất, lớn nhất, có mặt các danh tướng Thanh cũng đã bị vây. Hứa Thế Hanh được quân sĩ báo, vội lên mặt thành xem xét. Trước mặt hắn, đại binh tây Sơn đông như kiến cỏ đang tràn tời như dòng thác đổ. Hứa Thế Hanh sửng sốt, kinh hoàng kêu lớn:

- Đồn Hạ Hồi mất rồi! Quân chúng từ trên trời rơi xuống, từ dưới đất chui lên hay sao mà nhanh đến thế được?

Lập tức, Hứa Thế Hanh cho thám mã cấp báo cho Tôn Sĩ Nghị hay tin rồi đốc quân lên mặt thành cự chiến.

Tôn Sĩ Nghị đang ngồi bên mỹ nữ do Lê Chiêu Thống mới tiến dẫn hôm trước nghe tin dữ, vội vùng dậy, mặt tái đi như gà bị cắt tiết. Sau khi đã định thần, Tôn Sĩ Nghị vội triệu lãnh binh Quãng Tây là Thăng Hùng Nghiệp cùng viên hàng tướng Phan Khải Đức đem quân cần vương của Lê Chiêu Thống đi cứu viện cho đồn Ngọc Hồi. Phái binh đi rồi, Tôn Sĩ Nghị căng thẳng chờ đợi tin tức.

Nhưng một loạt cấp báo khác tới tấp dội tới dinh Tôn Sĩ Nghị: Quân Tây Sơn do đô đốc Long thống lĩnh đã hạ thành Khương Thượng. Rồi lại có súng nổ liên hồi, lửa cháy rực trời ở phía tây thành. Tôn Sĩ Nghị phái thám tử đi xem xét. Thám tử chưa về thì tin sét đánh chợt đến: Quân của đô đốc Long đã vào Thăng Long và đang tiến như bão táp vào đại bản doanh của Nghị. Kinh hoàng, Tôn Sĩ Nghị lýu lưỡi gọi bọn tướng tùy tùng rồi không kịp đóng yên, không kịp mặc áo giáp, không kịp mang theo ấn tín, Nghị cùng toán kỵ binh hầu cận vượt qua cầu phao, nhằm thẳng hướng Bắc tháo chạy.

Quân các doanh thấy chủ tướng cao chạy xa bay cũng tranh nhau qua cầu xô đẩy giẫm đạp lên nhau mà chết. Rồi, "Cầu bị đứt, quân Thanh rơi xuống sông, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc lại không chảy được nữa". Thấy nguy, Lê Chiêu Thống tham sống sợ chết, cũng bỏ cả vợ con cùng mất tên quan hầu men theo bờ sông chạy miết lên Nghi Tàm, cướp thuyền vượt sông, chạy lên ải Nam Quan, rồi vượt biên giới.

Nguyễn Huệ vây đồn Ngọc Hồi rồi một mặt cho quân chuẩn bị thang, mộc, mặt khác phô trương thanh thế chứ không vội đánh. Mờ sáng, ngày năm tháng Giêng, khi được tin đô đốc Long đã hạ đồn Khương Thượng đúng như kế đã vạch, Nguyễn Huệ đội mũ miện, mặc áo bào đỏ và để tỏ ý quyết chiến, vua Tây Sơn tự mình buộc khăn vàng vào cổ rồi lên mình voi đốc chiến.Trước hết, Nguyễn Huệ cho đội tượng binh gồm một trăm voi chiến huỳnh huỵch đạp đất xông lên. Trên mặt đồn, Hứa Thế Hanh đang tung đội quân kỵ tinh nhuệ nhất vun vút xông ra chặn voi chiến.

Nhưng các chiến mã quân Thanh thấy voi bỗng rú lồng lên, chà đạp lên nhau quay lại. Các quản tượng Tây Sơn giơ búa thúc voi giẫm lên người, ngựa của giặc. Tiếng người kêu, tiếng ngựa hý bị át trong tiếng hò reo như sấm động của quân Tây Sơn đang lao lên như bão táp. Quân Thanh trên mặt đồn chúc nòng súng khạc lửa cố cản quân Tây Sơn. Lập tức Nguyễn Huệ chia đội tượng binh ra làm hai, đánh bọc vào hai bên sườn địch và cử Ngô Văn Sở cầm một đạo quân vòng ra sau đồn Ngọc Hồi, chặn đường rút của giặc về phía Tây Luông. Tiếp đấy, Nguyễn Huệ hạ lệnh cho cánh quân xung phong gồm những binh sĩ khỏe mạnh, thiện chiến thành hai mươi toán, mỗi toán mười người khiêng mộc gỗ, bện rơm ướt bên ngoài nhất loạt xông lên.

Đạn đại bác của quân Thanh mất hiệu lực. Cánh quân xung phong của Nguyễn Huệ sát đến thành vứt mộc, rút đoản đao xông vào kịch chiến. Từ phía sau, đại binh Tây Sơn cũng tràn lên phá lũy. Quân Thanh vội bắn hỏa mù. Cả trận địa sầm tối. Nhưng quân Tây Sơn tung hỏa hổ vào đồn. Phút chốc đồn Ngọc Hồi chìm trong một cơn bão lửa. Không chống nổi, quân Thanh bỏ chạy tán loạn. Xác giặc chồng chất ở chân lũy. Những tên sống sót chạy về phía Tây Luông. Ở phía ấy, đạo quân của Ngô Văn Sở tua tủa gươm giáo đang tràn tới chặn đường. Hốt hoảng, giặc chạy tắt sang Vịnh Kiều để về Thăng Long.

Cả ở mặt ấy nữa, quân Tây Sơn do đô đốc Bảo cũng đã chờ sẵn. Cùng đường, chúng chạy vào Đầm Mực. Quân Tây Sơn rượt theo, không tên giặc nào sống sót. Đại quân xâm lược Mãn Thanh đã đại bại. Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đã cứu cho dân Việt thoát khỏi ách đô hộ bạo tàn.

Nguyễn Huệ ngồi trên bành voi, uy phong lẫm liệt, cùng các tướng Tây Sơn đem đại quân hùng dũng tiến vào Thăng Long. Dân chúng Thăng Long, cả ông già bà cụ đều tràn hết ra đường náo nức chào đón đoàn quân chiến thắng. Đô Đốc Long cùng đội kỵ binh tinh nhuệ cũng từ hoàng cung hớn hở ra đón vua Tây Sơn. Trong niềm vui kiêu hãnh, tự hào tướng sĩ Tây Sơn và dân chúng Thăng Long bỗng nhận ra chiếc áo bào đỏ của vị vua bách chiến bách thắng đã sạm đen thuốc súng. Hình ảnh ấy với bao võ công phi thường, bụi đường và chiến tích theo bước chân của Nguyễn Huệ suốt từ Nam ra Bắc, khiến tên tuổi Nguyễn Huệ từ đấy trở thành niềm tự hào vô hạn; hơn thế, trở thành bất tử đối với dân chúng Thăng Long.

Hai mươi chín vạn quân Thanh hung hăng lúc ban đầu, đã đại bại. Một loạt trận đánh của năm đạo quân tiến theo các hướng khác nhau, nhưng cũng là trận đánh hiệp đồng chặt chẽ, kỳ diệu, diễn ra chính xác, đúng theo kế sách của vị anh hùng áo vải thiên tài Nguyễn Huệ đã vạch ra.

Nguyễn Huệ lại bắt tay ngay vào việc trị nước an dân. Bản thân Nguyễn Huệ và Nguyễn Huệ bắt buộc các bề tôi của mình ra trận phải đi trước cba quân, trị nước phải lấy sinh dân làm mục đích, phải đồng cam động khổ lúc gian nan, phải chung hưởng lúc phú quý thái bình, phải lấy thay uy, lấy đảm lược để chinh phục lòng người. Vì vậy, Bắc Hà được nhanh chóng ổn định, đời sống dân chúng được no đủ. Nguyễn Huệ lại vội về Nam lo việc diệt Ánh và trao binh quyền cho Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm.

Theo lệnh Nguyễn Huệ, ngay sau trận đo súng, gươm là cuộc tấn công bằng ngoại giao, bằng sự khôn khéo, kiên trì, linh hoạt và táo bạo đối với nhà Thanh. Ngô Thì Nhậm, người tôi trung có tài đã đứng vững trên thế cao của mợt dân tộc chiến thắng, chẳng những phá tan được âm mưu trả thù của nhà Thanh mà còn buộc vua Thanh phải công nhận triều Tây Sơn là triều chính thống. Hơn thế, phải trước sau kính nể ông vua của một nước nhỏ.

Đàng trong, vào lúc này, Nguyễn Ánh đã ký hòa ước Véc xai ơ (Versaille) bán đứt cho giặc Pháp đảo Côn Lôn và đảo Hội An để đổi lấy vũ khí, tàu chiến và hơn một ngàn binh lính của họ. Và, lợi dụng lúc Nguyễn Huệ bận đánh giặc Thanh, Nguyễn Ánh một mặt gửi thư và năm muơi cân gạo ra giúp quân Thanh; mặt khác ra sức mở rộng lực lượng, đánh các tướng Tây Sơn. Được Ánh khuyến khích, bọn tướng tá giặc Pháp khuếch đai sự thần kỳ của các tàu chiến họ giúp Ánh. Hơn thế, chúng thả khinh khí cầu để lòe bịp dân chúng về phép lạ của người Tây dương.

Vì vậy, ngay khi trở về Phú Xuân, Nguyễn Huệ dốc sức mộ binh, tích lương, sửa soạn đánh Gia Định. Chẳng mấy chốc, Nguyễn Huệ có một đạo quân không phải trên mười vạn như khi đánh giặc Thanh mà là gần ba mươi vạn. Và, một kế đánh quyết liệt vũ bão đã được nhà chiến lược thiên tài tính toán vạch ra. Theo kế ấy, đại quân của Nguyễn Huệ phối hợp với Nguyễn Nhạc sẽ chia thành ba đạo cùng tiến vào đất Gia Định. Ba đạo quân ấy như ba lưỡi gươm sắc cùng bổ vào đầu Nguyễn Ánh. Dẫu lúc ấy, Ánh còn vùng vẫy nhưng số phận tên bán nước đã như cá nằm trên thớt.

Nhưng kế đánh quyết liệt tận gốc tên giặc Ánh không thực hiện được ngay, vì lúc ấy, đang vào lúc gió nồm thổi, bất lợi cho việc tiến quân.

Tháng Năm năm Nhâm Tý (1792), Nguyễn Huệ đã cử một đội chiến thuyền bốn mươi chiếc vào Quy Nhơn hợp quân với Nguyễn Nhạc. Tháng bảy năm ấy, trước lúc xuất quân để yên lòng dân chúng Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Nguyễn Huệ truyền hịch:

- Bây giờn theo lệnh Hoàng đại huynh, trẫm sẽ thân chinh cầm đại quân theo hai đường thủy bộ vào dẹp giặc. Trẫm sẽ đập tan bọn giặc Nguyễn dễ dàng như đập tan một cành củi khô, một thanh gỗ mục... Các người chớ quá nhẹ dạ cả nghe những lời phao đồn về bọn người Tây dương. Tài giỏi gì hạng người đó? Mắt chúng là mắt rắn xanh, chúng chỉ là xác chết trôi từ biển Bắc giạt về đây, các ngươi nên hiểu như thế! Những tàu đồng, những khinh khí cầu của chúng thì có gì lạ mà phải đệ trình lên trẫm biết.

Để cho đại quân của ta tiến vào được dễ dàng, các xã dân hai phủ dọc đường hành quân, hãy kịp sửa sang cầu cống.

Lệnh truyền tới, nhân dân hãy vâng theo ý trẫm.

Giặc Ánh và bọn đạo trưởng mật thám Tây dương nơm nớp lo sợ. Nhưng ngày mười sáu tháng Chín năm 1972, một nỗi đau đớn không thể bù đắp được của quân, dân Tây Sơn bỗng xảy đến: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ sau mấy ngày mắc bạo bệnh đã băng hà. Năm ấy Nguyễn Huệ mới bốn mươi tuổi. Biết bao hoài bão của người anh hùng chưa được thực hiện. Nguyễn Huệ mất, lưỡi gươm cực kỳ sắc bén đang bổ vào đầu Nguyễn Ánh sững lại giữa chừng.

Hết.