PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Nguyễn Hữu Cầu



ptvinhvl
17-09-2009, 03:10 PM
Từ mờ sáng, một toán lính Trịnh thuộc đạo quân của Hoàng Ngũ Phúc đang đi chinh tiễu ở miền Nam, bất ngờ tràn vào làng Lão Phong. Chúng được triều đình cho phép: Quân đi tiễu phạt ở vùng nào có quyền trưng thóc ở vùng ấy. Bọn cường hào ở Lão Phong được mật báo từ trước đã dẫn lính đến từng nhà để thu thóc. Ai không có liền bị lính bắt giải đến trình làng để tra hỏi. Nhưng dân nghèo Lão Phong không còn thóc. Họ đang lâm vàoi cảnh đói trầm trọng như các làng khác. Nhiều nhà phải sống nhờ rau cỏ, ăn cả thịt chuột, rắn.

Gần trưa rồi mà số thóc thu được không thấm tháp vào đâu so với định mức của ba quân. Bao nhiêu người đã bị đánh sưng mắt, sái quai hàm hoặc nằm bất tỉnh chỉ vì không nộp đủ mỗi xuất đinh một xô thóc. Đến lượt một thiếu phụ bế trên tay một đứa con nhỏ bị gọi tới.

Tên quản hách dịch hét:

- Tại sao nhà chị không chịu nộp thóc. Thóc dấu ở đâu?

Thiếu phụ run run:

- Bẩm quan, nhà con, quan đã khám, một đấu thóc cũng không có; chồng con lại mới mất.

Tên hào phú có cập long mầy rậm như con sâu róm, hắng giọng:

- Nghĩ thương cảnh mày góa bụi, tao làm phúa nộp cho suất thóc ấy.

Thiếu phụ vẻ biết ơn, nhanh nhẩu:

- Vâng, nếu cụ cho vay, con sẽ làm thuê làm mướn trả sau.

- Bây giờ thóc cao gạo kém, một cái bánh đa đổi được cả một mẫu ruộng mà mày ăn nói dễ nghe nhỉ. Tao nộp cho suất thóc ấy nhưng phải gán cho mảnh vườn và cái nhà xiêu vẹo không được như cái chuồng trâu ấy cho tao.

- Thế thì con đành chịu chứ đến nước ấy thì mẹ con con biết sống ở đâu?

Tên quan nạt nộ:

- Dẫu phải chết đói cũng không được phép thiếu thóc nộp cho quan quân. Có bằng lòng không?

- Nhưng phải có thóc mới có nộp, không có thóc thì đào đâu ra? Thiếu phụ đáp, đáng cương quyết.

- À, quân này láo, dám xem thường phép nước. Tên quản vừa quát vừa dùng hết sức đá vào người thiếu phụ.

Thiếu phụ ngã lăn ra giãy đành đạch, đứa con đang bế bị văng ra khóc thét lên.

- Chúng nó giết chị Hạnh rồi.

Đám đông dân chúng kêu thất thanh rồi đổ xô lại, người bế cháu nhỏ, người cứu chữa nạn nhân. Nhưng người thiếu phụ bị cái đá hiểm mãi mãi không dậy được nữa. Không khí căm phẫn sục sôi trong đám dân chúng, một thanh niên mắt long lên giận dữ xông tới tên quản. Nhưng lập tức anh bị đám lính đè sấp xuống. Tên chỉ huy vừa đạp lên người anh vừa nghiến răng trèo trẹo:

- Ngữ này thì sớm muộn thì cũng theo nghịch cầu làm loạn thôi.

Dân chúng bỗng xô động ầm ầm. Từ đầu làng, một đàn ngựa chiến đang phi nhanh như gió lốc về phía họ.

- Quân ông Cầu! Chợt một người thét lên thích thú.


Đúng quân ông Cầu rồi. Dân chúng đã nhận ra Nguyễn Hữu Cầu. Họ reo hò không ngớt.

Binh lính Trịnh và bọn cường hào vội tháo chạy. Nhưng nghĩa quân và dân chúng Lão phong ngay sau đấy đã bắt gọn được bọn chúng. Nguyễn Hữu Cầu trong bộ chiến phục bó sát người đang đi giữa đám đông dân chúng trở về đình. Viên tướng nông dân được coi là Hạng võ của nước Nam này có một vẽ đẹp thật khỏe mạnh. Bộ võ phục bằng lụa đỏ sẫm không che lấp được những bắp thịt to tròn, nở cuồn cuộn ở đôi vai; ngược lại, chất lụa mềm mại lại làm tôn lên lòng ngực nở nang, nhất là đôi tay to lớn nổi từng thớ chắc nịch. Vẽ đẹp võ tướng ấy, gầm trời Nam này chỉ một Nguyễn Hữu Cầu mới có.

Nguyễn Hữu Cầu đã tới sân đình. Viên tướng nông dân lần lượt đỡ những người bị lính triều đình đánh ngã vừa rồi ngồi dậy được. Cặp mắt sáng ngời của viên tướng chợt dừng lại bên sát người thiếu phụ, đang nằm bất động bên người một bà già đang bế một cháu nhỏ. Nguyễn Hữu Cầu chợt hiểu. Viên tướng bước nhanh về phía ấy rồi không chần chừ, bế xốc người thiếu phụ đặt nằm ngay ngắn trên chiếc kỳ vừa được mang tới. Đứa trẻ bỗng bật khóc dữ dội khi thấy có người mang mẹ nó đi, tiếng gọi mẹ của con thơ vò xé lòng viên tướng. Nguyễn Hữu Cầu hướng về phía dân chúng giọng nghẹn lại:

- Tôi ác của triều đình đã chất cao như núi. Khấp nơi dân nghèo bị dồn đến đường cùng nấu chí trả thù. Tiếng khóc của em bé này đang kêu gọi chúng ta phải đứng dậy trả thù!

Nhiều người động lòng thật khóc rưng rức.

Lập tức lên cầm đầu toán lính bị dẫn đi hành hình. Cầu chỉ vào bọn cường hào, phú ông, tiếp tục ra lệnh cho nghĩa quân:

- Phải đi khám nhà từng đứa một và tịch thu hết thóc đem về đây để chia cho dân nghèo.

Rồi Cầu lại hướng về phía dân chúng Lão phong lúc này đang hả hê nhìn mình:

- Nạn đói đang hoành hành khắp chốn. Ta vốn coi dân là ruột thịt, như anh em trong một nhà. Đại quân ta lấy việc bảo dân là mục đích, lẽ nào thấy trăm họ đói mà không cứu giúp, thấy giặc tàn mà không trừng trị. Nay đang lúc giáp hạt, quân ta đang chia đi nhiều ngả để cứu đói. Ai túng thiếu ta cấp tiền, ai đói khát ta cấp gạo.

- Tướng quân là ân nhân của dân chúng tôi!

- Tướng quân đã cải tử hoàn sinh cho người nghèo chúng tôi.

Dân chúng Lão Phong nghẹn ngào đáp lại lời Cầu.

- Còn anh em binh lính triều đình Nguyễn Hữu Cầu tiếp Anh em cũng là những người nghèo. Cha mẹ, vợ con anh em chắc gì đã hơn số kiếp những người cùng dân vừa bị anh em hành hạ. Nghĩ như thế, ta tha cho anh em trở về quê quán, nhưng phải cải tà quy chính chăm lo việc làm ăn.

Một người lính bước đến trước mặt Cầu, cung kính:

- Lòng nhân nghĩa của tướng quân cảm hóa được cả cỏ cây muôn vật. Lẽ nào chúng tôi lại không xin ở lại vì nghĩa lớn.

Gần hầu hết mấy chục tên lính đượcNguyễn Hữu Cầu cho nhập vào nghĩa quân.

Thóc lúa của bọn hào phú đã được gánh tới, chứa đầy cả ba gian đình. Cầu ra lệnh cho nghĩa quân:

Ai già yếu, có con thơ cho gấp đôi. Nhà nào có người ốm đau không đi lấy thóc được, các người phải đem đến tận tay. Bọn hào phú đã chịu nộp hết thóc cũng có phần như mọi người.

Cảnh chia thóc, tưng bừng như một ngày hội lớn. Dân chúng Lão Phong không bao giờ quên được cái ngày tháng ghi nhớ ấy. Nhiều trai tráng trong làng cảm kích trước nghĩa lớn của Nguyễn Hữu Cầu đã hăng hái gia nhập nghĩa quân.

Các cánh quân đi cứu dân đều đã trở về Đồ Sơn. Thấy quân mình đã mạnh, một hôm Nguyễn Hữu Cầu triệu các tướng lại nói:

Ta khởi binh là để khảo Trịnh, bảo dân. Nay ở sơn Sơn Tây có quân của thống lĩnh Tương, ở Tam Đảo có Nguyễn Danh Phương, ở Sơn Nam có Ngân Già, Tú Cao cũng đang phất cờ khởi nghĩa. Vậy ta phải ra quân để hưởng ứng với các nơi, cùng mưu phúc lành cho muôn họ. Các tướng nghĩ thế nào?

Một tướng tâm phúc của Cầu tên là Thông vội đáp:

Trình tướng quân! Trăm người như một, quân sĩ muốn được xung trận để thỏa những oán thù chất chứa bấy lâu.

Cuộc họp chưa xong thì có tin cấp báo: đốc lĩnh thủy đạo Trịnh Bảng đang kéo gần một trăm chiến thuyền tiến ra Đồ Sơn. Nguyễn Hữu Cầu nét mặt rạng rỡ:

Quân giặc không mời mà đến. Ta vẫn chẳng đang chờ dịp này sao? Nhưng muốn thắng ta phải dử chúng vào sâu. Ai nhận trọng trách này?

Lại còn ai nữa: Tôi xin đi. Thông sôi nổi đáp.

Lập tức Thông được lệnh dẫn mười chiến thuyền nhỏ chở nghĩa quân xuất trận.

Trong khi đang dàn phục quân, chợt Nguyễn Hữu Cầu thấy mây thành đùn lên, triệu chứng trời sắp nổi gió mạnh. Vì vậy, Cầu cho một cánh quân hướng theo chiều gió đến phục ở đảo Cát Bạc và nói:

Các chú có cơ bắt sống được tướng giặc đấy. Nhưng phải giấu quân cho kín, chờ lệnh ta! Cánh quân vừa đi khỏi, Nguyễn Hữu Cầu liền đem đại binh đến phục ở cửa Giai. Xong đâu đấy, Cầu cùng một tùy tướng leo lên một mỏm đá cao quan sát.

Đoàn chiến thuyền loại lớn của Trịnh Bảng hàng hàng nối nhau tiến vào Đồ Sơn ngạo nghễ, kiêu căng như tính hạnh người chủ tướng của nó. Vừa mấy hôm trước cậy là hàng quốc thích, Trịnh Bảng nói với chúa Trịnh Doanh:

Đảng nghịch của Cầu chỉ như một lũ chuột chui rúc ở cái hang Đồ Sơn mà soái phủ đã hao bao nhiêu tướng sĩ, tiền của về nó. Phen này cất quân đi dù nghịch Cầu có phép tàng hình tôi cũng xin bắt sống hắn, nhốt vào cũi đem về.

Vào đến địa phận Đồ Sơn. Trịnh Bảng cho giàn đoàn chiến thuyền thành hình cánh cung khổng lồ, mũi huớng về Hòn Dấu.

Vừa qua một eo núi, đoàn thuyền quân Trịnh bỗng bị một loạt súng hỏa mai bắn vào cánh cung bên phải. Và ngay sau đó, mười chiến thuyền nhỏ hình quả trám từ một hang núi lao thẳng vào đoàn thuyền quân Trịnh, bắn tiếp một loạt tên. Bị chết nhiều, quân Trịnh hoảng sợ bỏ lái nằm bẹp xuống lòng thuyền. Trịnh Bảng vẫn đứng trên thuyền tướng đốc xuất quân sĩ bắn lại. Hắn vênh cằm tự đắc vì đội thuyền của nghĩa quân bỗng rối loạn và tháo chạy.

Đuổi gấp! Bắt sống lấy nghịch Cầu cho ta Trịnh Bảng ra lệnh cho quân hắn. Tiếng loa truyền lệnh nối nhau họa theo.

Một tùy tướng của Trịnh Bảng vội ngăn:

Nghịch Cầu vốn lắm mưu nhiều kế. Tướng công đuổi theo sợ mắc mưu gian của hắn.

Trịnh Bảng cười rung cả người, nói:

Mưu kế gì? Lũ giặc cỏ không đương nổi thuyền của ta đó thôi.

Gió bắt đầu thổi mạnh. Nguyễn Hữu Cầu cho bắn súng hiệu rồi tức tốc xuống thuyền tướng xuất trận. Thông cũng cho thuyền quay mũi, giương cờ hiệu tiến đánh. Phút chốc thủy đạo quân Trịnh rơi vào thế bị bao vây. Trịnh Bảng lồng lộn hò hét quân lính ra sức bắn lại. Nhưng thuyền của quân Trịnh to, lại gặp gió mạnh, trở lên khó điều khiển. Trong khi ấy, thuyền nghĩa quân nhỏ nhẹ vẫn từng đợt áp sát vào thuyền giặc, mặc sức bắn giết.

Thấy nguy, Trịnh Bảng tháo chạy về hướng Cát Bạc. Nhưng chạy được một quãng, Trịnh Bảng lại thấy một đội nghĩa quân như từ trên trời rơi xuống, đang vượt sóng dữ lao về phía hắn. Bị đánh từ ba mặt, đoàn chiến thuyền của Trịnh Bảng bị cắt ra từng đoạn, thây chúng chồng chất trong lòng thuyền. Lợi dụng khói đạn mù mịt, Trịnh Bảng bỏ mặc quân sĩ, lách thuyền chạy tháo thân.

Lập tức Nguyễn Hữu Cầu truyền lệnh:

Phải bắt sống Trịnh Bảng không cho hắn chạy thoát.

Hạ xong lệnh ấy, thuyền của Cầu vọt lên như một mũi tên đuổi theo. Khi thuyền Cầu vừa áp tới thuyền giặc, thì nhanh như chớp, viên tướng nông dân đã vác siêu đao nhảy sang giết chết ngay mấy tên lính hộ vệ Trịnh Bảng và túm lấy Trịnh Bảng tung lên tung xuống như bong bóng.

Mất tướng, quân triều đình nhất loạt xin hàng.

Tin Nguyễn Hữu Cầu dựng cờ nghĩa và xưng hiệu "Đông đạo thống quốc bảo dân đại tướng quân" làm nức lòng dân quân khắp chốn Hải Hưng. Tin truyền về dinh Trịnh Doanh làm náo động cả kinh thành. Trịnh Doanh quyết định chọn đại tướng đi diệt Cầu. Hai danh tướng thủy đạo là Hoàng Công Kỳ và Trần Cảnh được triệu vào triều. Trịnh Doanh ân cần:

Nghịch Cầu giương cờ Bảo dân làm mê muội người nghèo. Nếu không trừ ngay đi sẽ là một cái họa lớn. Nay ta sai tướng tài gấp đem quân cácđạo đi phá giặc. Ta chờ tin báo tiệp.

Hai mươi tám cơ thuyền quân giặc nầm nập kéo ra Đồ Sơn. Đi được nửa đường, Trịnh Doanh còn cử thêm tướng thủy đạo là Nguyễn Đăng Hiển đem quân đi hợp đánh. Thế giặc mạnh như nước lũ.

Nguyễn Hữu Cầu dàn quân chờ giặc. Thông được lệnh đem một đoàn chiến thuyền ra khiêu chiến. Hoàng Công Kỳ đánh lui được đoàn chiến thuyền của Thông liền phao tin thắng lớn rồi rút quân về.

Ở kinh đô, Trịnh Doanh hớn hở nói với quần thần:

Nghịch Cầu địch sao nổi đại tướng của ta. Tiếc rằng Kỳ chưa đuổi đến cùng mà thôi.

Nhưng chỉ nửa tháng sau, tin dữ báo về kinh: Nguyễn Hữu Cầu đã vây chặt được đạo quân của Hoàng Công Kỳ và Trần Cảnh ở Thanh Hà. May nhờ Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc đang thống lĩnh quân kỳ đao đi tiễu phạt ở vùng Đông, kịp đến ứng cứu nên sau mười ngày bị vây, Kỳ mới thoát chết. Hiện quân của Phúc và Kỳ đang hợp sức đuổi theo để bắt sống Nguyễn Hữu Cầu.

Trịnh Doanh tươi tỉnh mừng thầm.

Nhưng chỉ mấy ngày sau Trịnh Doanh lại được tin chẳng lành: Hoàng Ngũ Phúc và Hoàng Công Kỳ mắc mưu Cầu bị thua to. Trịnh Bá Khâm tùy tướng của Hoàng Ngũ Phúc bỏ xác trong đám loạn quân.

Ba tướng Hoàng Công Phúc, Hoàng Công Kỳ và Trần Cảnh bị triệu về kinh. Trịnh Doanh nét mặt hầm hầm tức giận:

Giặc Cầu chỉ như thế muỗi đội núi mà sao các ngươi bao phen uổng công đánh dẹp, phụ lòng ta đến thế?

Trịnh Doanh lập tức xuống chỉ cách chức Hoàng Công Kỳ, Trần Cảnh và bảo Hoàng Ngũ Phúc:

Ta nể vì nhà ngươi có chút công lao khi trước nên chưa nỡ xử tệ, nhưng thực đáng trách.

Hoàng Ngũ Phúc tạ ơn chúa rồi tiếp:

Để rửa mối nhục thù này, xin chúa thượng cho tôi một phen cầm quân xuất trận, quyết bắt sống được con cá He mới chịu!

Trịnh Doanh tươi cười:

Ngươi hiểu bụng ta lắm. Cần bao nhiêu quân để diệt nghịch Cầu ta cũng không tiếc.

Sau gần một năm luyện tập, Hoàng Ngũ Phúc thống lĩnh ba trăm chiến thuyền tiến ra Đồ Sơn đánh Cầu. Viên hoạn quan tự thiến để được vào dinh chúa này, từ lâu đã được coi là hạng danh tướng của triều đình. Hoàng Ngũ Phúc thù Cầu đến nỗi, suốt sáu tháng qua, không đêm nào hắn không đọc sách binh thư. Hơn thế nữa, tiền công không đủ, hắn bỏ tiền túi, tự mộ tráng sĩ và trước lúc xuất trận còn hứa với Trịnh Doanh: Quyết bắt được Cầu để báo ơn chúa.

Nhưng cũng từ năm ấy tin dữ dồn dập đưa về, làm khuynh động cả kinh thành: Nguyễn Hữu Cầu đã phá vỡ vòng vây của Hoàng Ngũ Phúc để tiến lên Kinh Bắc. Rồi Nguyễn Hữu Cầu đang đắp hệ thống lũy từ Quế Nham đến Khê Kiều và dàn đặt chiến thuyền đặc cả khúc sông ấy. Tin cũ chưa qua thì tin mới lại đến: Cầu đã lấy được Thị Cầu, chiếm trấn thành Kinh Bắc. Trấn thủ Kinh Bắc là Trần Đình Miên bỏ cả ấn tín mà chạy. Điều đặc biệt làm cho Trịnh Doanh kinh sợ là dân nghèo Kinh Bắc dang nổi dậy kết bọn hào phú, nhất loạt theo Cầu.

Trịnh Doanh không còn lòng dạ nào khiển trách Hoàng Ngũ Phúc mà vội triệu ngay văn võ bá quan bàn cách phá Cầu. Các tướng có vai vế triều đình: Hoàng Ngũ Phúc, Vũ Tá Liễn, Lê Lệ, Nguyễn Trọng Thân kể cả quốc thích Trương Khuông, em ruột Trương Quý Phi, người vợ yêu của Trịnh Doanh cũng được lệnh đem đại binh đi Kinh Bắc chặn Cầu. Kinh đô bao lâu nay chưa thấy cuộc động binh nào lớn như thế. Sau nhiều ngày tranh giành, Trương Khuông đã đoạt được chức thống lĩnh. Hắn nói với chị:

Có năm đạo binh ấy thì làm cỏ được cả dân nước Nam huống hồ là đảng nghịch của Cầu.

Ba ngày sau, kế diệt Cầu của Trương Khuông đã định xong. Việc quận công Hoàng Ngũ Phúc được lệnh đem toàn chiến thuyền hùng hậu chặn ở sông Nhật Đức, phòng Cầu rút về Đồ Sơn. Vũ Tá Liễn, Lê Lệ đem quân vượt dòng Nhật Đức vòng ra sau chặn hậu. Hướng chính diện mà Trương Khuông ví là nhát dao chỉ việc hạ xuống là diệt được toàn bộ lực lượng của Cầu, do Nguyễn Trọng Thân làm tiên phong và Trương Khuông thân đốc xuất trung quân. Rồi, năm đạo binh tiến theo ba hướng, cờ gióng trống mở hối hả lên đường.

Nguyễn Hữu Cầu họp quân sĩ lại nói:

Vì mục đích bảo dân, ta từ Đông Đạo đánh lên Kinh Bắc để rồi đánh ra toàn quốc. Run sợ vì lẽ ấy, nay triều đình phái binh hùng tướng mạnh quyết một phen sống mái với ta. Nhưng ngẫm lại, từ lúc ta còn trứng nước, chúng đã chẳng hại được ta huống hồ lúc này, sức ta đã mạnh; nghĩa lớn của ta được dân nghèo khắp chốn hưởng ứng. Vậy, tướng sĩ có thể quyết chiến, giết giặc cứu cho khắp dân nghèo không?

Chúng tôi một lòng theo chủ tướng nghĩa quân đồng thanh đáp lại như sấm động.

Nay kế phá giặc ta đã định xong, Cầu nói tiếp nơi nào đánh, lúc nào tiến binh, quân sĩ phải nhất loạt tuân theo lệnh tướng. Được như vậy thì phúc lành cho muôn họ chẳng còn bao lâu.

Ngay sau đó hàng vạn nghĩa binh rầm rập kéo đi mạnh như gió táp sóng gào. Nguyễn Hữu Cầu ngồi trên ngựa chiến, oai phong lẫm liệt thân dẫn trung quân đi chặn đánh Trương Khuông.

Tháng mười một năm 1747, đạo binh khổng lồ của Trương Khuông đã đến địa phận huyện Lạng Giang. Để dụ địch trúng kế mình, Cầu chọn làng Ngọc Lâm có địa hình hiểm trở đặt phục binh rồi cho một bộ cao to vóc giống mình đem quân lên phía trước đón giặc.

Ngay từ phút đầu lâm trận, nghĩa quân đã không đương nổi đại quân của Trương Khuông, đành phải rút chạy. Trương Khuông đắc ý bảo Ngyễn Trọng Thân:

- Xem ra nghịch Cầu không phải là địch thủ của ta.

- Hạ quan ngờ đó là mưu của giặc!

Trương Khuông hầm hầm nổi giận:

- Ông không thấy binh sĩ của hắn già nua ốm yếu đang tháo chạy đó sao?

Nói rồi Trương Khuông thúc ngựa đi lên hàng tiền đạo và không ngớt truyền lệnh đuổi gấp. Qua một khe núi ở gần làng Ngọc Lâm, Trương Khuông bỗng thấy mất hút bóng nghĩa quân. Nhưng chỉ một chút sau, một cánh quân như thế lại, xuất hiện ở bên kia cánh đồng rậm rạp. Như con thú say mồi, Trương Khuông cho quân đánh tràn qua. Nhưng quân lính Trịnh tiến rất chậm. Rồi người ngựa bỗng ùn lại giữa cánh đồng lầy.

Đúng lúc ấy, ba phát súng hiệu nổ ở ngay eo núi mà hắn vừa vượt qua. Quay lại phía ấy, Trương Khuông nhìn thấy cạnh lá cờ đại là viên tướng dũng mãnh, cắp siêu đao, đang dẫn đầu doàn quân lao về phía hắn như cơn lốc. Rồi bên kia cánh đồng bên phải, bên trái, những đội quân như thế cũng nhất loạt xông ra. Ngựa quân Trịnh càng giẫm đạp, càng lún sâu. Binh lính Trịnh rú lên hãi hùng. Sấm động trên đầu chúng. Đất rung dưới chân chúng. Chúng mếu máo gọi nhau. Máu chúng chảy khắp cánh đồng, thấm đỏ cả ven núi. Trương Khuông hồn siêu phách lạc, đã bỏ quân lính chạy từ đầu.

Cuộc hành quân quy mô của quân Trịnh đã đại bại.

Viên tướng cự phách đứng vào hàng đầu của triều đình là hổ tướng Đinh Văn Giai đang trấn ở Hưng Hóa được triệu về kinh gấp. Ngay cả Trịnh Doanh, vốn không ưa Đinh Văn Giai, cũng phải thừa nhận Giai là viên tướng trí dũng song toàn, xứng đáng được giao trọng binh. Cả nước lúc ấy vẫn truyền tụng:

"Làm quan họ Đặng, đánh giặc họ Đinh".

Đinh Văn Giai lại là người xuất chúng nhất, từng lập được nhiều công trạng hiển hách làm vẻ vang cho dòng họ mình. Đời làm tướng của Giai đã đánh dư trăm trận nhưng chưa hề biết thua. Tương truyền, mỗi khi vác đại đao xung trận, sức Giai đánh được cả hơn trăm địch và Giai có thể đánh nhau liền trong ba ngày không cần ăn.

Đinh Văn Giai đã về đến kinh đô. Quả thật Giai có vẻ đẹp võ tướng không thau kém Nguyễn Hữu cầu, xuống ngựa, Giai vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng không thèm chào hỏi ai mà đi thẳng vào dinh chúa, Trịnh Doanh vồn vã hỏi ngay vào việc:

- Kinh bắc chấn động. Thế giặc Cầu lớn lắm. Các tướng bản Triều không ai phá được hắn. Vậy tướng quân chịu vất vả một phen xuất binh để diệt giặc báo nước. Ta đã nghĩ kĩ rồi, chỉ có tướng quân mới có thể lấy đầu con cá He ấy.

- Khải chúa thượng! Giai đáp Tôi dòng dõi hưởng lộc chúa mấy đời, lẽ nào lại không hết sức để báo chúa!

Ngay sau đấy, Trịnh Doanh phong cho Đinh Văn Giai làm thống lĩnh thượng tướng quân, Ngô Đình Bánh làm tán lý, đem năm vạn quân đi đánh nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu.

Cả Kinh đô xôn xao bàn tán về cuộc đọ sức của hai viên mãnh tướng: Nguyễn Hữu Cầu và Đinh Văn Giai.

Nhưng Đinh Văn Giai vẫn chưa chịu tiến binh. Viên Hổ tướng dày dạn kinh nghiệm này thấy khó thắng được Nguyễn Hữu Cầu. Việc ấy khiến Trịnh Doanh nghi ngờ. Mãi đến khi có chiếu chỉ giục, Giai mới miễn cưỡng làm lễ xuất trận.

Được tin ấy, Nguyễn Hữu Cầu lúc đó đang đóng ở Xương Giang hợp các tướng lại bàn:

- Đinh Văn Giai là một tướng tài nhưng vốn không được Trịnh Doanh tin dùng. Việc Giai chậm tiến binh càng là cái cớ để Trịnh Doanh ngờ hắn hai lòng. Vậy là ta đã có kế đánh. Nhưng kế này phải giữ kín ngay với cả quân sĩ của ta, mới mong thành được.

Cầu nói kế mình rồi mật truyền quân tuần tiễu, hễ thấy có chiếc võng nào vào trại quân thì không được cản trở.

Chiều ấy, một toán lính Trịnh khiêng chiếc võng điều đi vào quân doanh nghĩa quân. Người đi chiếc võng ấy được Cầu tiếp rồi trở về ngay. Sau khi thân tiễn người lạ mặt ra tận ngoài quân doanh Cầu trở về loan tin:

- Đinh Văn Giai muốn về hàng ta nhưng không tiện nộp thân quá sớm sợ miệng thế chê cười vậy nay mai khi giáp chiến, hễ thấy Giai thì cố bắt sống lấy hắn.

- Nghĩa quân hay tin, vô cùng phấn chấn, ngược lại quân Trịnh thì không còn lòng dạ nào tham chiến nữa, Tán Lý Ngô Đình Oánh mật báo cho Trịnh Doanh biết việc Giai phản bội và toan đem quân bắt Giai. Nhưng Oánh chưa kịp làm, thì Cầu đã đem đại quân tới. Đinh Văn Giai hạ lệnh cho hai tướng tả hữu ra đánh trước. Nhưng hai tướng không tuân lệnh Giai mà lại theo Oánh rút về phía sau.

Biết mưu của Cầu đã lung lạc được lòng quân mình, Đinh Văn Giai quyết ra trận để tỏ rõ lòng trung của hắn với chúa. Giai vác đại Đao lên ngựa dẫn đầu quân binh, xông vào thế trận của nghĩa quân và thách Cầu ra đấu võ. Nguyễn Hữu Cầu cắp siêu đao đứng đầu đoàn quân bên kia, giọng sang sảng như chuông đồng:

- Bớ Đinh Văn Giai! Nhà ngươi định lấy cái chết để báo chúa hay sao mà thách ta tỉ thí.

Đinh Văn Giai tức sùi bọt mép:

- Ta nghe nói nhà ngươi có sức bạt sơn, cử đỉnh. Vậy nếu ngươi không sợ chết thì hãy ra ngay so đọ tài năng, can chi phải nhiều lời.

Lập tức Nguyễn Hữu Cầu vác cây siêu đao phi ngựa ra giữa bãi nghênh chiến. Đinh Văn Giai dặn nhỏ ba con mình điều gì rồi cũng vác đại đao phi ngựa xông ra trận. Thông phải chuyển tay kiếm. Ghìm con ngựa không chịu đứng yên để theo dõi trận đánh. Quân sĩ hai bên hò reo vang trời để cổ vũ chủ tướng. Giữa bãi cầu và Giai tầm vóc ngang nhau, màu ngựa hao hao giống nhau bắt đầu diễu võ. Mới vào trận mà ngựa hai bên đã cuốn lấy nhau, đến nổi quân sĩ khó phân biệt đâu là chủ tướng của mình.

Đã qua năm hiệp rồi mười hiệp, trận đánh vẫn bất phân thắng bại. Thấy mình đã thấm mệt mà Cầu thì vẫn nhanh nhẹn, sắc bén, đường đao trước sau vẫn cuốn chặt lấy người không một chút sơ hở, nên Giai quyết định dùng một miếng bí truyền để hại Cầu. Trong đời làm tướng của mình, không ít người địch hại được Giai năm, mười hiệp. Nhưng chưa ai qua miếng võ hiếm hóc ấy lại còn ngồi nguyên được trên mình ngựa. Phải kết liễu đời nghịch He ngay trước mặt lũ quân của hắn.

Giai hít một hơi mạnh, quyết định; và đang ở trong thế đỡ, Giai đột ngột dùng hết sức bình sinh chuyển sang thế đánh, rồi bắt đầu lùi lại, né người, giả phạt ngang đường đao cốt làm cho Cầu phải đở miếng ấy, rồi nhanh như chớp, Giai hất mũi đao, dùng toàn sức bổ vào người Cầu. Choeng! Tiếng binh khí bập vào nhau cực mạnh, lóe lửa. Giai toát mồ hôi, tay cầm đao tê dại đi và đùi Giai đỏ nhuộm máu. Miếng võ bí truyền của Giai chẳng những không hạ được Cầu vì Cầu không bị mắc lừa; ngược lại, nhân lúc Giai mất đà, Cầu đã phóng mũi siêu đao trúng đùi Giai.

Viên hổ tướng triều đình kinh hoàng thúc ngựa tháo chạy về trại mình. Ba con của Giai thấy cha cùng phóng ngựa lên chặn Cầu. Nhưng chỉ trong chớp mắt, Cầu đã chém được một đứa, đầu rơi xuống chân ngựa. Thông cũng đã đốc thúc nghĩa quân xông vào trận địa. Phúc chốc quân triều đình tan vở chạy tán loạn. Đinh Văn Giai trước khi chạy thoát, còn bị thêm hai vết thương nữa.

Chỉ trong một tháng, quân Trịnh hai lần đại bại.

Phạm Đình Trọng, kẻ đã đánh bại được cuộc dấy binh của Nguyễn Tuyền, Nguyễn Cừ đang giữ chức hiệp đồng khu Đông Trào được triệu về kinh. Viên nho tướng bỗng được Trịnh Doanh cất nhắc lên cái chức mà chính Trọng không bao giờ ngờ tới: Hiệp chấn kinh Bắc kiêm hiệp chấn Hải Dương và cùng Hoàng Ngũ phúc, nắm nhiều quyền hành, đem quân đi đánh Cầu. Kinh Bắc náo động vì những cuộc hành binh lớn chưa từng thấy của quân triều đình.

Một hôm Nguyễn Hữu Cầu đang luyện tân binh ở Xương Giang thì nhận được phong thư của Phạm Đình Trọng. Mở thư, Cầu chỉ thấy một vế câu đối:

- "Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ".

Hóa ra hắn vẫn thích đánh nhau bằng đòn bút như năm xưa. Cầu thầm nghĩ Được, đã thế ta cho hắn biết. Cầu sai lấy giấy bút và không cần phải nghĩ lâu, đối lại:

- "Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương".

Phạm Đình Trọng lúc đó đang vừa uống vừa bàn kế đánh Cầu với Hoàng Ngũ Phúc ở thủy trại của mình, nhận được vế đối, Trọng lặng đi một lúc rồi vừa đưa cho Phúc xem vừa nói:

- Cũng chỉ có mình nghịch Cầu mới có thể đối lại được vế đối này. Vế đối thật là hay nhưng cũng thật là cứng cổ.

Hoàng Ngũ Phúc ngắm nghía chữ Cầu hồi lâu rồi cũng gật gù:

- Lời đồn đại quả không ngoa. Khí phách nghịch He lộ rõ cả trong một vế đối. Nghe nói khi trước ông cùng học với hắn phải không? Hoàng Ngũ Phúc đột ngột hỏi Trọng.

Hạ quan là trưởng tràng Trọng đáp, nhưng chưa bao giờ hắn phục tôi. Ngược lại, hắn luôn luôn là kẻ kình địch của tôi.

A ha ha Hoàng Ngũ Phúc đắc ý cười lớn thì bây giờ cũng vẫn thế. Chí hai người khác nhau hoàn toàn: Hắn giương cờ bảo dân, ông một lòng bảo chúa, người bênh dân, người bênh chúa, sao lại tương đắc với nhau được?

- Tôi sẽ bắt sống và giết hắn Trọng hậm hực đứng lên.

- Không dễ đâu Hoàng Ngũ Phúc cười nhạt châm chọc ông chưa giáp trận với hắn nên không thấy đó thôi. Huống hồ ông là giòng dõi văn quan xuất thân.

- Nhưng tôi có kế sách của tôi Trọng cố kìm sự bực tức, mát mẻ nói kháy lại Dùng sứcvới nghịch He thì chỉ có hại. Bao danh tướng của soái phủ đã chẳng phải ngậm đắng nuốt cay đó sao?

Mối hiềm khích giữa hai viên tướng có cơ tăng lên. Nhưng may sao vừa lúc ấy Trọng được tin quân Nguyễn Hữu Cầu đến khiêu chiến. Trọng thở phào vì tránh được cuộc đụng độ với Hoàng Ngũ Phúc rất không lợi cho hắn.

- Xin thượng quan cho lệnh Trọng nói, điệu bộ cung kính.

Được lời như cởi tấm lòng, Hoàng Ngũ Phúc quên hẳn mối hiềm khích vừa xảy ra:

Tại quân doanh của ông, xin cứ tùy tiện.

Lập tức, Trọng truyền lệnh:

- Cần giữ chứ không cần đánh. Ai ở đâu vẫn ở đó. Nói rồi Trọng sai dọn mời phúc.

Tiệc mới bắt đầu thì chợt thấy một mũi tên của nghĩa quân bỗng nhiên giết chết tên lính hầu của Trọng. Hoàng Ngũ Phúc hoảng hốt đứng dậy định lui ra, thì Trọng vội giữ lại nói:

Ba quân hay dở quan hệ ở ông tướng. Nếu ta lánh đi quân sĩ mất nhuệ khí, giặc tất tràn sang, ta còn chống lại làm sao được?

Trọng thay lính hầu rồi vẫn giữ vẻ ung dung, tiếp tục uống .

Một tùy tướng của Trọng lại báo:

- Nghịch Cầu vẫn thách và lăng nhục tướng công thậm tệ. Hắn nói tướng công ra luồn vào cúi và là thằn lằn.

- Thôi Trọng quát Người truyền lại lệnh ta: Giữ mà không đánh. Ai trái lệnh ta chém.

Khiêu chiến giặc không ra, chắc chắn không phá được giặc, Cầu đành đem quân về. Cầu ân hận vì quá tin chờ vào các đạo binh của Hoàng Công Chất và Nguyễn Danh Phương hẹn hùng tiến về kinh đô, nên để mất cơ hội đánh vào sào huyệt quân Trịnh ngay sau khi đã đánh bại được Đinh Văn Giai.

Nhân cơ hội ấy, Phạm Đình Trọng bàn với Hoàng Ngũ Phúc đem toàn bộ quân kinh Bắc chia làm ba đạo cùng đánh thành Xương Giang. Sau mấy ngày ác chiến, nghĩa quân phá được vòng vây rút về Yên Quảng rồi ra Đồ Sơn.

Kế bao vây triệt dân, triệt nguồn tiếp tế của Phạm Đình Trọng đã dồn nghĩa quân vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Đã bao lần Nguyễn Hữu Cầu và các tướng thay nhau đem quân ra khiêu chiến, nhưng viên tướng thâm hiểm này vẫn án binh bất động.

Nguyễn Hữu Cầu bàn với các tướng:

- Muốn bảo dân được, trước phải trừ Phạm Đình Trọng. Các tướng có kế nào diệt được hắn không?

- Trình tướng công Thông đáp Phạm Đình Trọng chiêu mộ được những dân cường tráng ở các hạt Thanh Hà, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thượng Hồng trong trấn Hải Dương đặt làm bốn cơ vừa tinh nhuệ lại vừa hết lòng vì hắn. Vậy muốn diệt được Trọng phải dùng đến thuật bơi lặn.

- Thật là diệu kế, Cầu tấm tắc khen.

Ngay đêm ấy, Cầu cho ngay một toán nghĩa quân giấu thuyền chờ mình ở đầu làng Đồ Sơn rồi đem theo siêu đao bơi vào thủy trại quân địch. Lúc bơi lúc lặn, Cầu đã bí mật tới được thuyền Trọng. Cầu vừa ngoi lên thì chẳng may gặp đúng lúc người ái thiếp của Phạm Đình Trọng ra rửa mặt. Người ái thiếp của Trọng hoảng sợ kêu rú lên, kịp cho Trọng trốn thoát.

Một lần khác, Cầu cũng dùng tài bơi lặn áp đến thuyền Trọng. Nhưng các tướng hộ vệ của Trọng lúc nào cũng ở bên hắn, nhân đến lúc Cầu đánh giết được bọn chúng. Trọng đã kịp lẩn tránh. Từ đấy Trọng sợ nên cho rải chiếu căn đặc cả bến sông và cắt quân rất nghiêm ngặt.

Phạm Đình Trọng dùng độc kế để mưu hại toàn bộ nghĩa quân. Trọng lập trại ở trên núi cao trông xuống trại của Cầu. Hắn sai đục rỗng ruột mấy trăm cây thông, nhồi mảnh gang, đá sắc cạnh và thuốc súng vào trong rồi đánh đai sắt bên ngoài thật chắc, lao xuống trại nghĩa quân. Thấy quân mình bị chết nhiều, Cầu cho quân lấy ván gỗ thông để che. Lập tức, Trọng cho lấy nhựa thông tẩm vào vải vụn, gói với sỏi và thuốc súng lại ném. Trại của nghĩa quân bị bốc cháy dữ dội.

Cầu rút chạy và lợi dụng lúc giặc sơ hở không phòng bị, bất ngờ đem quân vào đánh trấn lỵ Hải Dương.

Thấy mất hút Cầu, Trọng bàn với Phúc:

- Hạ quan ngờ nghịch Cầu lợi dụng đại quân ta còn ở đây nên mật đem quân cướp Hải Dương. Nếu để hắn chạy thoát thì khác nào sư tử xổng về rừng. Hắn hay dùng lợi lộc để cầu dử đám cùng dân, nên cảm ơn cái ấy, nghịch Cầu chỉ hô lên một tiếng là dân chúng lại theo hắn hàng vạn. Vậy theo ý hạ quan, ta phải gấp chia đường đi chặn hắn. Tách được hắn với đám cùng dân như lâu nay ta vẫn làm, thì chỉ còn ngày một ngày hai nghịch Cầu sẽ chết.

Nghe lời Trọng nên Phúc và Trọng đã kịp đem đại quân cứu được trấn lỵ Hải Dương. Rồi bao vây được nghĩa quân ở Đông Trào. Trong trận này nghĩa quân bị thua thiệt nặng nề. Hơn thế nữa, tướng Thông bị chết trận. Mất Thông, Cầu như gẫy một cánh tay. Trước khó khăn chồng chất, Nguyễn Hữu Cầu cho người về kinh dâng thư hàng.

Nhận lể hậu của Cầu, Đỗ Thế Giai và Nguyễn Phương Đĩnh ra sức thuyết phục Trịnh Doanh nhận cho Cầu về hàng. Vốn tin cẩn hai viên danh thần lại thấy Cầu là người kiệt hiệt, bao năm dùng binh không xong, nên Trịnh Doanh nhận lời. Trịnh Doanh tâu với vua Hiển Tông. Vua bằng lòng và phái người đi báo cho Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng ngưng binh.

Trọng tức tốc về kinh khóc với Trịnh Doanh:

- Nguyễn Hữu Cầu là người văn võ kiêm toàn, triều đình khó có người địch được. Nay lâm thế bí, bất đắc dĩ xin hàng để làm kế hoãn binh chứ đâu phải là thực bụng. Chi bằng nhân lúc nghịch Cầu đang nguy bách, tướng sĩ gắng công chút nữa để tiệt mầm phản loạn. Thần xin cố sức bắt tên ác tặc ấy.

Trịnh Doanh ngả theo ý Trọng. Nhưng Trọng đi rồi, Đỗ Thế Giai, Nguyễn Phương Đĩnh lại thuyết phụcTrịnh Doanh theo ý mình. Nể lời, Trịnh Doanh giao cho hai người tự ý thu xếp công việc.

Giai, Đĩnh phụng chỉ sai Nguyễn Phi Sảng đi gặp Cầu để thương nghị, bắt Cầu nộp hết các đồn trại, lương thực, khí giới và phải đem các tướng nghĩa quân về chầu. Đồng thờivua cũng phong cho Cầu làmNinh đông tướng quân, tước Lương Nghĩa hầu. Trước khi gặp Cầu, Sảng đến quân doanh Phạm Đình Trọng để truyền lệnh bãi binh. Trọng cười nói:

- Tôi với giặc He có mối thù không đội trời chung. Ta bảo chúa, giặc He bảo dân, sao dung được? Ông vâng mệnh bề trên, nhưng tướng ở ngoài cũng có quyền không theo lệnh. Ông cứ ra gặp giặc, nhưng nếu ngày một, ngày hai sự thể có thể hành động được, tôi không vì cớ ông ở bên trại mà ngừng việc binh đâu!

Nguyễn Hữu Cầu tiếp Sảng rất long trọng và hứa vâng theo chỉ ý. Sảng kể về thái độ của Trọng cho Cầu nghe, Cầu thấy cần lợi dụng sự không ăn ý giữa chúng, liền nói:

- Tôi muốn về làm thần tử của triều đình và đã được hoàng thượng, chúa thượng chuẩn cho. Thế mà Phạm hiệp thống lại muốn nối việc binh đao. Tôi thực bụng không hiểu hắn có oai quyền gì mà dám lộng hành, vượt cả quyền của Nhị vị đại thần.

Vừa lúc ấy, Phạm Đình Trọng cho mấy trăm thuyền bọc đồng tiến vào đánh nghĩa quân. Nguyễn Hữu Cầu bảo Nguyễn Phi Sảng, lúc đó đang tái đi vì khiếp sợ:

- Bây giờ thì quân sĩ của tôi sẽ đưa ông về. Hay dở thế nào ông cứ thực tình mà tâu.

Tiễn Sảng đi rồi, Nguyễn Hữu Cầu lên thuyền tướng nhưng không phải để đánh mà để rút. Cầu đang mưu toan kế khác. Muốn thực hiện được kế ấy phải kìm được đại binh của Trọng ở biển.

Quả như tiên đoán của Cầu, Đỗ Thế Giai và Nguyễn Phương Đĩnh sau khi nghe Sảng kể hết sự tình thì rất căm ghét Trọng. Hai người tâu với Trịnh Doanh:

- Phạm Đình Trọng là người trí dũng gồm đủ, dưới trướng lại có nhiều thuộc tướng giỏi, thật chẳng khác Lưu Bị có Quan Trương, Triệu Vân. Nay ông ta cầm trọng binh nếu sinh bụng phản trắc thì triều đình lấy gì mà chế ngự nổi. Cớ rõ nhất là Đình Trọng dám kháng lệnh chúa thượng ngăn trở Cầu về hàng. Xem vậy, nếu không trừ sớm đi thì hậu họa sẽ không lường trước được.

Trịnh Doanh im lặng không đáp.

Sau bữa cơm chiều không khí doanh trại nghĩa quân ở Cẩm Giàng nhộn nhịp hẳn lên. Họ vừa được lệnh nội nhập đêm nay sẽ tiến về đánh chiếm Thăng Long, đập tan ngai vàng của vua Lê chúa Trịnh, triệt tận gốc cảnh lầm than đói nghèo. Không phải không có người vẫn hiểu lầm về kế hàng của chủ tướng họ. Nhưng cũng vì thế, lúc này họ càng thêm phục người chủ tướng trí dũng song toàn, từng ăn với họ một mâm, nằm với họ một chiếu.

Anh chị em nghĩa binh vẫn tíu tít chuẩn bị. Người thì kiểm lại binh khí, người thì nai nịt lại cho gọn gàng hơn. Những người đã chuẩn bị xong, xúm lại thành từng cụm, chuyện nở như ngô rang. Giữa lúc ấy, Cầu dẫn đội thám mã trở về. Trong ráng chiểu vàng nhuộm, nghĩa quân thấy người chủ tướng của mình đẹp một cách lạ thường. Chủ tướng có gầy đi vì vất vả, vì lo nghĩ, nhưng có lẽ vì thế, đôi mắt quắc sáng, khuôn mặt cương nghị, rắn rỏi ấy càng để lộ nghị lực phi thường, dẫn đến những quyết định táo bạo, những tính toán thông minh, từng làm cho quân thù bao phen khiếp đảm, kinh hoàng.

Nhìn đôi mắt tinh thường, khuôn mặt rắn đanh lại, nhất là dáng điệu quả quyết trong mọi việc của chủ tướng, lòng nghĩa quân thấy ấm áp, thanh thản lại. Tình yêu thương, lòng kính trọng của nghĩa quân đối với chủ tướng, từ lâu rồi, đã quện chặt vào nhau như không còn ranh giới. Và, trong những lúc khó khăn như thế này, tướng và quân càng thêm gắn bó, đồng thời sự sát cánh vì nghĩa lớn ấy, đã chuyển thành niềm tin không gì lay chuyển được, thôi thúc họ ném tất cả sự khôn ngoan, cương quyết cho trận đánh mà họ đang chờ đợi.

Đứng trước đội ngũ quân sĩ đang nghiêm nghị đến căng thẳng, hướng về phía mình, Nguyễn Hữu Cầu nói dàng từng tiếng:

- Đêm nay ta sẽ tiến về đánh lấy kinh thành. Bọn giặc Trọng, Phúc không rời ta nửa bước, buộc ta phải bí mật, hành binh thần tốc. Quân sĩ phải đến Bồ Đề trước canh năm, rồi nhanh chóng cướp thuyền, vượt sông đánh úp kinh đô, bắt cho được tên bạo chúa Trịnh Doanh và cả bầy chúng.

Nghĩa quân hò reo đáp lại, chấn động cả một vùng trời.

- Cần một đội binh nhỏ khởi binh trước, nhưng đi về hướng Nam để che mắt giặc. Việc nhỏ nhưng cực kỳ nguy hiểm.

Hàng quân im phăng phắc.

- Ta biết binh sĩ ai cũng hăm hở tiến về kinh đô. Nhưng phải có một đội quân nghi binh Cầu nói tiếp và căng mắt chờ đợi.

Một viên tướng khập khiễng bước lên:

- Trình tướng quân! Những người hiện còn ốm yếu sẽ lĩnh việc này.

- Ngươi cho xuất quân ngay! Cầu hồ hởi ra lệnh.

Không khí chia tay bịn rịn, nặng nề, trùm lên nghĩa quân. Nhưng đội quân nghi binh đã vội vã lên đường. Đi được một quãng, viên tướng chỉ huy đội quân nghi binh đột ngột phi ngựa quay trở lại. Đến trước mặt Cầu, viên tướng chỉ nhìn Cầu mà không nói.

Cầu cố nén xúc động.

- Ta hiểu rồi. Việc lớn sẽ thành. Ngươi hãy yên lòng dẫn quân đi!

Viên tướng cúi đầu chào Cầu rồi giật cương, phóng ngựa đuổi theo quân sĩ của mình.

Đợi cho đội quân nghi binh đi xa, Nguyễn Hữu Cầu cho giương cờ lệnh và nói như thét lên:

- Để trả thù cho những chiến hữu đã mất, để cứu trăm họ khỏi cảnh làm than, đại quân lên đường!

Nghĩa quân theo lệnh Cầu, phi ngựa cướp đường, hướng về kinh thành xốc tới. Dẫn đầu hàng quân, chiến mã của Cầi sải những bước dài xuyên vào đêm tối.

Nhưng cuộc hành binh thần tốc của Cầu không thực hiện được như ý. Dọc đường vì phải đánh nhau với nhiều đội quân Trịnh nên đại binh của Cầu đến bến Bồ Đề thì trời đã sáng. Hơn thế nữa, bên kia sông Hồng, Trịnh Doanh được báo trước, đã gióng trống trương cờ, kịp dàn trận để chặn nghĩa quân, Nguyễn Hữu Cầu chưa cướp được thuyền đánh sang thì tin dữ lại đến: Phạm Đình Trọng đã đánh tan đội quân nghi binh của Cầu, giết được cả tướng và hiện đang đuổi gần đến nơi.

Hờn căm ngút trời, nhưng Nguyễn Hữu Cầu vẫn tỉnh táo, cho quân mình rút lui để bảo toàn lực lượng.

Thoát vòng vây ở Hương Lãm, Nguyễn Hữu Cầu dẫn một toán nghĩa binh chạy ra bể, đánh tan đội quân giữ thuyền của Phạm Đình Trọng, cướp lấy một chiến thuyền rồi tức tốc ra khơi.

- Tướng công định đi về hướng nào một nghĩa quân lái thuyền hỏi.

- Trở về Hải Dương Cầu ra lệnh Ta sẽ khôi phục lại cơ đồ ở đấy.

Nhắc đến miền đất thân thương đã hai năm xa cách ấy, lòng Cầu bỗng thấy đau nhói. Phải rồi, tại đấy, Thông và bao nghĩa sĩ bị bắt hoặc bị chết khi sự nghiệp còn dang dở. Nhưng cũng là miếng đất dấy nghiệp, từng hun đúc bao chiến sĩ kiên cường, vì phúc lành của muôn họ, coi cái chết nhẹ tực lông hồng. Cùng hai năm qua Cầu lại mới có dịp đi biển. Mặc dầu còn đang phải chạy giặc nhưng Cầu như đang sống lại cài cảm giác khoan khoái của những trận thắng lớn năm xưa.

Lũ tướng giặc triều đình mỗi khi ra biển, có đứa nào địch được Cầu qua một trận. Duy có Phạm Đình Trọng lửa giận trong lòng Cầu sôi lên tên tướng giặc nham hiểm ấy vẫn không rời Cầu nửa bước. Sau trận đánh kinh thành nhỡ nhàng, Cầu đem quân liên kết với Hoàng Công Chất đánh phá vùng Sơn Nam. Những đại binh của Trọng liền tức tốc đuổi theo. Mấy lần hắn chết hụt nhưng cuối cùng quân của Trọng đã phá được thế trận của nghĩa quân ở làng An Vệ.

Năm sau(1750) Cầu đem quân vào Nghệ An hợp binh với Nguyễn Duyên, Phạm Đình Trọng, lúc đó được phong là Hải Quân công, cũng lãnh đại binh đuổi theo.

Thằng giặc ấy không để cho mình trở về Hải Dương Cầu nghĩ bụng. Và, quả nhiên, ngoái nhìn phía sau, Nguyễn Hữu Cầu đã thấy thuyền chiến của Phạm Đình Trọng đang đuổi tới. Bất đắc dĩ, Cầu phải ghé thuyền lên bộ. Phạm Đình Trọng lập tức cửa một bộ tướng tâm là Phạm Đình Sĩ đem năm trăm quân đuổi theo.

Đã thấm mệt, lại đói, Nguyễn Hữu Cầu lúc này chỉ còn một mình liền vào thủ trong một cái hang ở núi Hoàng Mai.

Phạm Đình Sĩ cho quân vây bọc mất lần rồi bảo lính:

- Ai vào bắt sống được nghịch Cầu, ta tâu thưởng cho cả lạng vàng.

Hám của, một tiểu tướng của Sĩ tên là Hoàng Vĩ Hương lăng xăng khoác lác:

- Con cá He đã mắc cạn. Tôi xin vào bắt!

Sau một hồi ba hoa, viên tiểu tướng béo tròn nhưng ngắn có một mẩu ấy, hùng hổ vác mã tấu xông vào. Nhưng hắn vừa giơ mã tấu ra oai, đã bị Cầu dùng siêu đao gạt mạnh, mã tấu văng khỏi tay.

- Cho mi cầm lại mã tấu xem có nuốt trôi được lạng vàng không Cầu khinh bỉ bảo viên tiểu tướng triều đình.

Trở về chịu tiếng bất tài, Hoàng Vĩ Hương không sợ, vì hắn vốn nổi tiếng văn dốt vũ dát. Nhưng hắn liếc lạng vàng. Vì vậy, hắn vớ vội lấy mã tấu rồi bất ngờ đâm trộm. Nhưng Cầu đã kết liễu đời tên giặc hợm hĩnh.

Phạm Đình Sĩ liền chọn một toán lính lực lưỡng cho xông vào bắt Cầu. Nhưng không đứa nào chịu đi đầu. Phạm Đình Sĩ gọi một tên ra hỏi:

- Tại sao ngươi không tuân lệnh ta?

- Nghịch Cầu sức khỏe như Hạng Võ, Hổ tướng Đinh Văn Giai còn bị thua nữa là sức chúng tôi.

Lập tức Phạm Đình Sĩ tuốt kiếm chém chết tên lính rồi thét quân xông vào hang. Nhưng lính cảm tử vào càng nhiều, xác giặc càng lắm. Xác giặc chồng chất ở cửa hang.

Sau một ngày kịch chiến, con cá He oanh liệt một thời mời bị sa lưới.

Chiếc cùm lim nặng nề đã xiết chặt chân tay Cầu, gò Cầu ở tư thế nửa nằm nửa ngồi thật khó chịu, khiến gần cả đêm Cầu Không chợp mặt được. Bắt được Cầu, Phạm Đình Sĩ đã cho chữa một chiếc cùm lim hạng đại để cùm Cầu. Chẳng những thế, sợ Cầu bẻ gảy được cả cùm lim, hắn còn nhốt Cầu trong một cái cũi chắc chắn, đặt trong một gian nhà đóng kín, xung quanh có lính túc trực canh gác.

Chưa bao giờ Cầu có nhiều thì giờ suy nghĩ như đêm nay. Nhưng mạch suy nghĩ luôn luôn bị đứt đoạn vì cứ một chốc, bọn lính lại thay nhau vào xem Cầu sống hay chết, cũng còn vì toàn thân Cầu đau ê ẩm và cơn đói khủng khiếp luôn giày vò.

Cầu cựa quậy cố chọn một thế dể chịu nhất. Cầu đau đớn tự thấy nguồn gốc của thất bại là do sự liên kết hào kiệt chưa được cách một khối. Hoặc giả, có lúc chờ sự liên kết mà mạch cứng đờ, nên bỏ lở cơ hội có thể thừa thắng, đánh chiếm về kinh thành, ngay khi hai đạo binh lớn của Trương Khuông, Đinh Văn Giai bị vỡ.

Cầu còn đau xót hơn khi hoài bảo cứu cho khắp, giúp cho cùng muôn họ không thực hiện được. Nhớ lại trên dọc đường hành quân, Cầu đã bao lần gạt lệ khi chứng kiến những đau thương:con chết bên cạnh cha, vợ bị hành hạ trước mặt chồng. Bọn quan lại Trịnh đã mặc sức đày đọa, giết hại dân chúng. Coi dân chúng như bầy trâu ngựa. Giờ đây, trong nổi đau giày vò, Cầu như thây vọng về lời kêu than, rên xuiết của hàng vạn dân nghèo đang quằn quạy trong tay giặc. Biết bao nhiêu ông già, bà cả đã đem con mình trao cho Cầu, phó mặc cả tính mệnh của gia đình họ cho Cầu. Vậy mà Cầu đã phụ lòng tin ấy.

Không! Cầu thương dân, Cầu hằng thương những người nghèo khắp chốn như cha mẹ, anh em ruột của mình. Vì phải đánh nhau liên miên hết năm này đến năm khác, với những lực lượng ngày càng lớn của quân Trịnh, Cầu chưa làm được nhiều việc để bày tỏ tình thương ấy. Nhưng tình thương ấy đã xốc Cầu dậy trong những trận đánh. Vì thế mà cầu đã muốn nghĩa quân nhào tới vật lộn với địch. Và, cũng chính vì tình thương ấy, Cầu đã từng chỉ huy vừa dẩn đầu trong những cuộc đọ sức, ném tất cả khôn ngoan, táo bạo của mình để dành chiến thắng. Cầu bị bắt, nghĩa lớn còn dang dở chưa thành, nhưng cầu không hổ thẹn vì dân trọn đời mình cho chúng.

Chao ơi! Nên Cầu kịp về đất Hải Dương! Vùng đồng ruộng có con sông Bạch Đằng từng hòa nhịp tiếng ngựa hí, chỉ cần sửa được sai lầm xưa, nó sẽ trở thành đất thánh của đoàn quân bảo dân cả nước và nghĩa lớn sẽ thành.

Gần sáng rồi, Cầu muốn thiếp đi chốc lát để hôm sau còn tỉnh táo đương đầu với kẻ thù. Nhưng cớ nhắm mắt lại thì Cầu thấy hiện lên những khuôn mặt thân thuộc, từng ôm ngọt sẻ bùi và cùng ôm ấp những hoài bảo lớn. Cứ nhắm mắt lại là Cầu thấy mình như đang bay về với vùng biển Đông, đang cưỡitrên sóng bạc đầu, giữa những bấu khoáng đạt bao la. Cầu yêu biển, nhất là cảng biển về buổi sáng. Mặt trời lúc ấy như đi lên từ biển giống như một quả cầu lửa khổng lồ. Khi còn ở đại trại Đồ Sơn, những lùc rảnh rỗi, Cầu đã để hàng giờ để ngắm trời ngắm biển và phóng tằm mắt ra xa muôn dặm. Thật là kỳ dịêu, tạo hóa lúc ấy như sổ lồng cho chí tung hoành ngang dọc mà không gì chế ngự nổi của Cầu.

Cầu lại đổi thế ngồi. Cái cùm lim nặng nề này, cái cũi làm bằng những cây gỗ chưa kịp bóc võ này, vừa tai ác vừa trào lộng. Bây giờ ta bị nhốt trong cái cũi này cũng ví như khi xưa ta bịo gfiam hảm trong cái lồøng trời mây. Ước gì được sổ lồng, ta sẽ tung hoành chi phỉ sức, giống như cánh chim bằng sải cánh bay bổng, lượng những vòng rộng lớn trong không trung rồi lại vút lên trời xanh bay lượn. Cầu cũng muốn như được như bầy chimoanh vẩy vùng ở phương Bắc hoặc như đàn chim loan tung cánh mãi về phương Nam. Con nhim có thể bị tù hãm, phải nhốt ở trong lồng cũng như mình bị cùm trong cũi, nhưng chỉ muốn chọc trời khuấy nước, hoài bão và niềm tin vẫn nở rộ xanh tươi như thiên nhiên hùng vĩ vạn sắc màu rợc rỡ.

Một nguồn thơ dạt dào, lai láng đến với Cầu. Cùm lim, lồng cũi, đớn đau, đói khác đều tan biến đi và Cầu đang hoàn toàn hóa thân trong tầm suy nghĩ rộng lớn không gì ngăn cản nổi của những ý thơ.

Chợt, cửa nhà giam bị mở tung. Tiếng Phan Đinh Trọng ra lệnh cho quân lính khiêng cũi ra ngoài.

Ta sẽ chết nhưng phải minh mẩn, nhất là trước mặt quân thù, pải giữ được tiết tháo của người lính bảo dân Cầu tự nhủ và đột ngột lấy giọng hát.

Chào ông Cầu Trọng cừa nói vừa cười rấ tươi Tôi lấy tình bạn cũ đến thăm ông đây.

Đúng là miệng lưỡi của thằng Trọng khi trước Cầu nhận xét nhưng vẫn say xưa hát, không thèm nhìn Trọng.

Thấy cầu thản nhiên không sợ sệt, thậm chí không coi mình vào đâu, Trọng khiêu khích:

Tôi thiết nghĩ khi nào có việc vui mừng người ta mới hát, đằng này ông đang gặp sự không may thì ca hát làm gì cho tủi.

Cầu vẫn không thèm nhìn Trọng, tiếp tục lấy giọng hát to hơn.

Trọng cố lấy dáng tự nhiên cúi sát bên cũi:

Bây giờ ông như con chim trong lồng còn gì mà ca với hát?

Cầu sửng sốt thấy kẻ thù ví mình là "Chim trong lồng", hệt như đêm qua Cầu tự ví mình.

Đúng là chim trong lồng Cầu ngừng hát, đáp Nhưng mà lồng trời mây. Lúc nào tiện, chim sẽ vỗ cánh bay đi cho phỉ sức.

Trọng mím môi kìm cơn giận trước câu trả lời ngạo mạn, lộ rỏ sự khinh thị của Cầu:

Biết ông là người có tài thơ, trường hợp nào cũng làm được. Vậy ông hãy vịnh cảnh "Chim trong lồng" xem sau!

Ý thơ đã nung nấu từ đêm và cũng phải cho kẽ thù biết ý chí của ta Cầu nghĩ nên không đợi nhắt đến lần thứ hai, Nguyễn Hữu Cầu đã cất giọng ngâm:

"Nhất lung thân địa tàng thân tiểu

Vạn lý phong vân cử mục tần

Hỏi sao sao lụy cơ trần?

Bận tài bay nhảy sót thân tang bồng.

Nào khi vỗ cánh rỉa lông.

Hót câu thiên túng trong vòng lao lung

Chim oanh nọ vẫy vùng giậu Bắc

Đàn loan kia túc tắc cành Nam

Mặc bay đông ngữ, tây đàm

Chờ khiphong tiện dức dàn vân lung

Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu hán

Phá vòng vây bạn với kim ô

Giang sơn khách diệc tri hồ?"

Chao ơi, hay quá Đám quân sĩ triều đình hết sức kinh ngạc trước tài xuất khẩu thành thơ của Nguyễn Hửu Cầu, lờ miệng, đồng thanh khen. Phan đình Trọng củng không khỏi sửng sốt trước tài thơ xuất chúng của Cầu. Nhưng ý tứ bài thơ đã làm hắn giận tái người, không còn giấu được ý đồ nham hiểm của hắn nữa:

Nghĩ ông là chốn bạn cũ giọng Trọng rít lên nên tôi đến xem ông có cần tôi giúp gì không? Đã thế này thì tôi phải giải ông về kinh để chịu tội. Ông sẽ ân hận mà chết.

A, ha ha, ha ha... Nguyễn Hữu Cầu bật cười lớn.

Giải tên tặc tướng về cung gấp Trọng không chịu nổi tiếng cười đắc thắng của Cầu, lúng túng ra lệnh.

A, ha ha, ha ha. Cầu vẫn cười.

Tiếng cười khoái trá ấy của Cầu cứ từng đợt từng đợt rộ lên đập vào vách núi, bay ra xa mấy cánh đồng vọng cả vào không trung.

Nghe tiếng cười ấy, mặt Trọng thêm tái đi, quên cả lên chiếc võng điều vừa được hắn giục mang tới.

Hết.