PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Phan Huy Chú



ptvinhvl
17-09-2009, 03:29 PM
Quan Thám bận đi ăn giỗ ở làng bên nên không kịp về đúng giờ dạy học. Đã thành lệ, mỗi khi quan thám về muộn, trưởng tràng phải dùng hết quyền lực, thậm chí bằng cả roi như thầy học cho phép mới bắt được gần năm chục học trò yên lặng ôn bài cũ. Phan Huy Hạo, ít tuổi nhất lớp nhưng là cậu bé duy nhất không hề tỏ ra sợ hãi trưởng tràng. Cậu vẫn nhấp nhổm ngoái cổ ra cửa sổ ngó ra sân, trêu chọc đám trẻ, lợi dụng quan Thám đi vắng, đến xem học.

Mấy lần ngọn roi trưởng tràng vung lên nhưng rồi lại hạ xuống, không mảy may động đến cậu bé có gương mặt thông minh và bướng bỉnh ấy. Cũng như quan Thám, trưởng tràng nể Phan Huy Hạo không chỉ vì cậu là con Lễ bộ thượng thư Phan Huy Ích mà còn vì phục tài cậu. Thực vậy, bản tính Phan Huy Hạo nghịch ngợm nhưng tài học của cậu sớm nổi tiếng cả vùng, khó học trò nào địch nổi.

Xuất thân từ một gia đình dòng dõi khoa bảng, ông nội, cha và chú ruột đều đỗ tiến sĩ, làm quan to và đều là những nhà soạn sách có tài nên Phan Huy Hạo từ bé đã được rèn luyện, dạy dỗ cẩn thận về thi thư. Vốn thông minh lại sớm có chí tìm tòi nên Phan Huy Hạo chẳng những chỉ nhớ sách mà còn hiểu nghĩa sách đến mức dám tranh luận với thầøy học và có lúc dồn thầy học vào thế bí. Một lầøn, luận về lịch sử nước nhà, quan thám dựa vào các sách đương thời, coi nhà Triệu là vương triều chính thống của nước Việt. Phan Huy Hạo nhờ học rộng, hiểu sâu đã mạnh bạo bác ý thầy học gán quốc thống cho nhà Triệu là sai. Cậu chứng minh:

- Triệu Đà nổi lên ở Long Xuyên, dựng nước ở Phan Dương, mở mang bờ cõi, kiêm tính nước ta để có hai đô, đặt giám chỉ để cai quản, chưa từng làm vua nước ta. Nếu ta nhận y là vua nước Việt ta, thì sau đó Lâm Sĩ Hoằng nổi lên ở Bà Dương, Lưu Nghiễm nổi lên ở Quảng Xuyên, cả hai đều xưng là Nam Việt Vương, ta cũng phải biên vào nội kỷ trong lịch sử nước ta hay sao? Người xưa lầm lẫn vì không phân biệt được nước Việt ở quận Nam Hải và quận Quế Lâm không phải là nước Việt ở bằng quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Lớp học lặng đi trong giây lát. Mọi người lo lắng sợ quan Thám sẽ đùng đùng nổi giận vì sự vô lễ của Phan Huy Hạo. Nhưng trái lệ thường, người thầy học nổi tiếng hay chữ ấy sớm nhận ra tài năng đặc biệt của con trai Lễ bộ thượng thư tân triều. Hơn thế ông giâït mình trước lý lẽ sắc bén, khả năng tìm tòi và những suy nghĩ táo bạo rất đúng của cậu bé. Bởi vậy, quan Thám chẳng những không quở trách mà còn khen ngợi Phan Huy Hạo. Từ đấy, ông càng mến và nể Phan Huy Hạo hơn.

Lớp học bỗng trở nên ồn ào. Một đứa nào đó cất giọng oang oang:

- Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm. Nhân dịp thầy chưa về, chơi cho thỏa thích, anh em ơi!

- Ừ phải đấy, học mãi mờ cả mắt, anh trưởng ạ! Phan Huy Hạo mắt bừng sáng phụ họa.

- Chơi cái gì bây giờ?

Vẫn Phan Huy Hạo liếu láu:

- Chơi hồ: Xách khố; cố: đấm lưng; nhĩ: Bẹo tai; tu: Bẹo cằm; tâm: Bẹo bụng; mục: Bẹo mắt; tị: Bẹo mũi; khẩu: Bẹo mồm nhé! Nào chơi đi.

Cả lớp nhao nhao hưởng ứng ầm ĩ như chợ vỡ. Trưởng tràng cầm roi vội nhảy lên sập, lớn tiếng quát tháo:

- Chúng mày không học lại còn phá đám hả? Rủi thầy về thì ai chịu lỗi. Muốn tốt thì học đi!

Trông thấy ngọn roi lăm lăm trong tay trưởng tràng, đứa nghịch ngợm nhất cũng chưng hửng ngồi xuống. Trưởng tràng đắc chí cười tủm tỉm rồi làm ra vẻ thông cảm dịu giọng:

- Nếu các cậu chán học thì chơi đố chữ vậy. Chơi đôù chữ thầy về cũng không quở phạt.

- Phải đấy! Hay đấy. Hôm nay phải cho thằng Hạo tịt mít.

- Bắt đầu đi Một cậu bé được thể hét lớn:

- Tôi đố trước trưởng tràng dõng dạc. Hai chú thập rập chú viết, chú nguyệt đứng trông là chữ gì?

Cả lớp đều nhẩm lại câu đố ngẫm nghĩ rồi đua nhau:

- Chữ Hồ.

- Không phải!

- Chữ Minh.

- Cũng không phải!

- Hạo ơi, giảng đi:

Phan Huy Hạo vừa được một cậu bé đến xem học đãi một bắp ngô nướng vàng ươm, thơm phưng phức nên không để tâm đến chuyện đố chữ. Bởi vậy, khi bị gọi đích danh, cậu đứng đơ ra.

- Thằng Hạo tịt rồi, tịt thật rồi.

Cả lớp cười khoái chí. Trưởng tràng sức học vấn vốn thua Hạo được dịp lên nước:

- Câu đó dễ thế mà cũng không giảng được. Đấy là chữ triều. Chữ triều gồm chữ thập ở trên, một chữ thập ở dưới, ép lấy chữ viết ở giữa, một bên có chữ nguyệt rành rành là gì?

Từ cuối lớp một cậu bé dặn hắn rồi đọc:

- "Chim chích mà đậu cành tre", "Thập trên, tứ dưới, nhất đè chữ tâm", là gì?

Lần này Phan Huy Hạo chú ý nên giảng ngay.

- Dễ thế mà cũng đố! Chữ "đức"

Cả lớp nhao nhao:

- Giỏi lắm.

Đến lượt Phan Huy Hạo đứng dậy:

- Cô kia đội nón chờ ai, là chữ gì?

- Chữ an. Trưởng tràng hớn hở đáp.

- Giỏi! Tôi đố tiếp cặp mắt Hạo sáng long lanh Đất này là đất bùn ao. Ai cắm cây sào mà cắm chẳng ngay. Con ai lại đứng ở đây? Đứng thì không vững vịn ngay vào sào?

Cả lớp rì rầm nhắc lại câu đố. Thấy chúng bạn có chiều bí, Phan Huy Hạo khích lệ:

- Cứ thông thả mà nghĩ, tìm ra từng chữ rồi ghép lại thành chữ giảng.

- Thôi đi, đừng có lên giọng. Cậu bé ngồi gần Hạo không chịu được thái độ làm bộ, làm vẻ của Hạo, công phẫn.

Nhưng rồi chính cậu ta lúc sau lại kêu lên:

- Chịu!

Nhiều tiếng xuýt xoa, thất vọng nổi lên:

- Chịu đấy!

- Đây cũng chịu. Trưởng tràng ngán ngẩm, đáp sau cùng.

Phan Huy Hạo nói khích:

- Kém thế! Dễ nhất.

- Thôi giảng đi, hay cũng tịt nốt?

- Chữ hiếu mà không biết à?

Không khí lớp học như vỡ tung ra. Trưởng tràng đợi bớt ồn ào rồi nói to:

- Sao lại chữ hiếu nhỉ?

Phan Huy Hạo cười rất tươi:

- Thổ trên là đất, nét phẩy là cái sào cắm nghiêng, chữ tử là con, rõ chưa?

- Hay lắm, giỏi lắm. Cả lớp nắc nỏm khen.

Chợt có một chú bé hấp tấp từ cổng chạy vào:

- Thầy về đấy! Sắp đến rồi!

Tức thì ai nấy vội cầm sách nhanh chóng ngồi thành hàng, cạnh những chiếc chiếu căn liền thành dãy rồi mở sách, làm ra vẻ chăm chú học. Trưởng tràng để gọn nghiên son, ống bút cho thầy rồi cũng cầm lấy sách.

Ngay sau đó, cả lớp nhận ra bước chân quen thuộc của thầy đồ đang tới gần.

Càng lớn lên, Phan Huy Hạo càng tỏ rõ có năng khiếu đặc biệt về khả năng tìm tòi, nghiên cứu. Nhờ có một trí nhớ kỳ lạ, lại được thừa hưởng cả một gia tài sách vở hàng vạn quyển của gia đình tích trữ từ bao đời, kể cả gia tài sách của ông ngoại một gia đình nho học nổi tiếng, liền bảy đời sản sinh những nho sĩ có tên tuổi, Phan Huy Hạo có điều kiện đọc nhiều và dường như đã thâu tóm được đầy đủ đầu mối điển chương, tinh hoa của mọi sách vở. Vì vậy Phan Huy Hạo sớm nổi tiếng người học rộng, hiểu sâu.

Quê Phan Huy Hạo, xã Thanh Khuê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (Sơn Tây cũ) có chùa Phật tích (còn gọi là Sài Sơn) là một danh thắng nổi tiếng. Nơi đây núi cao thanh vắng, cây cỏ u nhã, có hang sâu, có hồ rộng nên chẳng mùa nào không có khách văn thơ đến viếng thăm. Đã đến Sài Sơn không có văn nhân nào lại không tìm đến ra mắt cậu công tử có tài ứng đối con quan Lễ bộ thượng thư Phan Huy Ích, cháu binh bộ thượng thư Ngô Thì Nhậm. Bằng những cuộc tiếp xúc ấy, Phan Huy Hạo thấy rõ lối học cử nghiệp chỉ đưa các văn nhân đến chỗ sính hư văn mà ít để tâm đến việc kinh luận. Cho nên, cũng từ rất sớm, Phan Huy Hạo xem thường lối học ấy và chủ trương:

"Văn chương phải kết hợp với sử cổ và chính sự đương thời".

Bởi vậy, ngoài việc học ở trường, Phan Huy Hạo giữ được thói quen say mê đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách không kể giờ giấc. Trong việc đọc sách, Phan Huy Hạo chọn cho mình lối đọc có suy nghĩ: đọc không chỉ để thừa nhận nó mà luôn luôn tìm ra cái hay, cái dở trong từng cuốn sách, thậm chí sau từng chương sách, Phan Huy Hạo bao giờ cũng ghi lại lời bình rất cẩn thận. Cho nên, ngay từ lúc còn đi học, Phan Huy Hạo dã ghi chép đầy đủ những bài thơ được coi là tinh hoa của các đời kèm theo đôi lời bình luận ý vị, sâu sắc làm nổi được cái hay cái đẹp của tác giả và phong cách của từng người.

Ví như, Phan Huy Hạo khen thơ Trần Nhân Tông "Phóng khoáng, thanh nhã", thơ Trầøn Quang Khải <<"Thanh thoát, nhàn nhã, xem thơ có thể thấy được phong thái của người", >>thơ Nguyễn Trãi "Ôn nhã, trung hậu, lời đặt chỉ cần khí khách, không cần chải chuốt... Tinh tứ, thấm thía, không thể đem từng chữ từng câu ra bàn đuợc".

Một lần, đọc kỹ những lời bình phẩm ấy, Phan Huy Ích nói với con:

- Những lời con bàn sâu sắc lắm, thật đáng khen. Vào tuổi con, cha chưa làm được như thế. Chẳng hay con có ý định soạn sách mà chăm chỉ biên sách làm vậy?

- Thưa cha! Quả là con có ý định ấy.

Giật mình trước chí hướng của con, Phan Huy Ích răn dạy:

- Đọc sách để bình phẩm hoặc lĩnh hội nghĩa sách thì dễ nhưng soạn sách thì không phải ai cũng làm được. Cha không sợ sức học của con không đủ mà sợ con thiếu bền bỉ để làm công việc hao tổn tinh thần này.

Phan Huy Hạo tươi nét mặt:

- Thưa cha! Ngược lại, con chỉ sợ lực học của con còn nông cạn chứ không sợ bề gan làm việc lớn.

- Cha sẽ giúp con. Nhưng người có tài trước thuật hơn cả vẫn là binh bộ thượng thư Ngô Thì Nhậm. Là chỗ người nhà, con nên cậy nhờ quan bác chỉ giáo cho buổi đầu.

Con xin nhớ lời cha dặn.

Nuôi hoài bảo trở thành người học rộng hiểu sâu, làm đẹp thêm truyền thống gia đình, dòng họ, Phan Huy Hạo khổ công rèn luyện cho mình cách học có kết quả nhất. Tấm gương lao đôïng miệt mài để soạn sách của cha chú, nhất là phong cách làm việc cần cù, thận trọng của Ngô Thì Nhậm, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng cậu học sinh có chí ấy.

Nhưng thời cuộc rối ren lúc ấy đã làm cho Phan Huy Hạo bối rối, thất vọng. Bởi vì, từ sau khi nhà vua Quang Trung mất, triều đình Tây Sơn chẳng những đã thiếu một người cầm đầu kiệt xuất mà còn đi sâu vào cái rớp xấu của những triều đại trước: Bè đảng tranh chấp, sao lãng dân tình, ăn chơi sa đọa vv... Các sĩ phu Bắc Hà, kể cả những người có công lớn như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, do nạn bè phái tranh chấp ấy, cũng không được vua Cảnh Thịnh tin dùng.

Trong lúc ấy, ở đàng trong, Nguyễn Ánh được bọn người Tây Dương giúp tàu đồng, binh khí, đang ra sức chiêu nạp từ những tên cường hào đến những tên đương thủ, lăm le dòm ngó Bắc Hà, tìm cách chiếm lại ngôi chúa tể. Nhận thấy không còn cơ cứu vãn thời thế, cũng như không còn dịp thi thố tài năng, nhiều sĩ phu đã ôm hận theo vua Tây Sơn. Binh bộ thượng thư Ngô Thì Nhậm, lễ bộ thượng thư Phan Huy Ích phải lui về quê. Bộ óc lớn của các danh sĩ ấây sau những năm phục vụ Tây Sơn chỉ còn biết tập trung cho việc trước thuật để lãng quên thực tế bi đát.

Theo dõi diễn biến của thời cuộc, đọc được nỗi phiền muộn trên khuôn mặt đăm chiêu, mái tóc nhanh bạc của cha, Phan Huy Hạo đêm ngày lo nghĩ, suy tư. Linh tính như báo cho Phan Huy Hạo những điềm chẳng lành sẽ xảy đến cho gia đình. Ý tưởng đem việc học ứng dụng cho đời không còn nữa. Tuy thế Phan Huy Hạo vẫn miệt mài đọc hết sách này đến sách khác và siêng năng ghi chép những điều đã đọc được vào những cuốn sổ khác nhau, còn ở tuổi thiếu niên nhưng khác với chúng bạn cùng lứa tuổi, Phan Huy Hạo ít đàn đúm chơi bời; ngược lại, cậu ưa sự yên tĩnhvà suy ngẫm. Theo gương cha, Phan Huy Hạo dồn sức vào việc đọc sách. Đọc sách đối với cậu là việc mở mang kiến thức, và lúc này, cũng là cách quên đi những vụ sát hại nhau ở triều Cảnh Thịnh.

Một ngày nhân đến thăm Phan Huy Ích, thấy Phan Huy Hạo mãi mê đọc sách, Ngô Thì Nhậm cười, hỏi:

- Ta nghe nói cháu là"Loại" Mọt sách? Chuyện ấy là có thật?

- Thưa quan bác Phan Huy Hạo lễ phép cái tinh việc của lòng nghĩ ngợi, lo toan đều gởi gấm vào trong văn chương sách vở. Cho nên xem văn chương để hiểu thấu đường đời. Văn minh loài người đều chứa trong sách vở vậy.

Ngô Thì Nhậm gật đầu, cười hỏi tiếp:

Ta còn được biết nhiều cuốn sách xem xong, cháu không hài lòng. Cháu có biết như vậy là kiêu ngạo không?

Phan Huy Hạo đỏ mặt lúng túng:

- Học vấn còn nông cạn cháu đâu có ý ấy. Nhưng quả là đời Lý, đời Trần về trước, điển cũ mất cả, sử chép rất đại lược. Nhà Lê sáng nghiệp, lúc trung hưng, từng điều từng chương hãy còn nhưng chép tản mát, không có hệ thống gì cả. Ví như "Việc binh, việc hình, việc lễ, việc nhạc, thánh nhân điều có luật"; "Công việc thường, tề, trị, bình, cũng đều có phép tắc", nhưng mỗi thời ứng dụng một khác. Ấy là các vĩ nhân "Biết nắm lấy thực tiễn làm cốt tử" chứ không khép mình bắt chước thánh hiền.

- Đội ơn quan bác đã rộng lòng nhận xét và khuyên bảo. Chẳng mấy khi quan bác đến thăm, cháu còn muốn thổ lộ điều bấy lâu hằng bận tâm: Lâu nay vua Cảnh Thịnh không tin dùng các sĩ phu bắc hà như thuở vua Quang Trung còn trị vì. Noi gương cha ông, cháu muốn đem việc học ứng dụng cho đời, nhưng gặp cảnh ngộ này cháu nên hành động ra sao?

Câu hỏi của đứa cháu thông minh khiến cho trái tim vị quan già nhói đau. Bình thường thì Ngô Thì Nhậm tìm cách lẫn tránh không trả lời, nhưng vì mến tài cháu, ông không thể không bày tỏ tư tưởng mình:

- Cháu là người có chí, ta không thể vô tâm. Theo ta, người quân tử phải có bản lĩnh, có chí khí, có lòng gan dạ sắt, tìm đâu hợp nghĩa thì theo. Ví dụ bấy lâu nay ta theo phò Quang Trung hoàng đế thì dẫu thời thế có đổi thay, phải giẫm lên đuôi hổ cũng không sao cả.

Dõi theo thời cuộc và bằng cả đời chứng nghiệm, ta nhận thấy rằng: Phàm một người muốn đem sức mình thi thố được cho đời phải biết "Thời" tựa như mưa thuận thì ruộng đồng dào dạt, chỉ một cái này là xong nghìn khoanh.

Trong hành động, phải biết biến hóa, thay đổi cho phù hợp với thời, phải biết cương nhu, biến thông, phải cùng thời biến hóa, rồi khi hành động thì phải quyết, phải theo dúng "đạo", nghĩa là biết cái đang tiến triễn mà làm sao cho nó tiến triển lên, có thể đạt tới chổ cơ trí vậy! Biết cái đang kết thúc mà làm cho nó kết thúc, đó có thể làm bảo tồn chữ nghĩa vậy.

Nói gọn lại, xúc tiến cái đang tiến triển và đẩy nhanh cái đang kết thúc, đạo chính là ở đây.

Lắng nghe những cái khuyên đầy trí tuệ ấy, Phan Huy Hạo vô cùng cảm kích. Suy nghĩ hồi lâu, cậu lễ phép nói:

- Thưa quan bác, cháu sẽ nhớ mãi những lời giáo huấn của quan bác. Cháu hiểu rằng triều đại nào cũng luôn luôn diễn ra cuộc đối chội dai dẳng giữa cái tốt với cái xấu. Người quân tử thì phải luôn đứng về cái tốt dù thời cuộc đổi thay đến đâu!

Như muốn kết thúc cuộc đàm đạo bất đắt dĩ, Ngô Thì Nhậm ưu tư nhìn cháu:

- Khuyên cháu cũng chính như tự nhủ lòng. Thói thường, đối với chuyện người khác, ta rất sáng suốt. Con người ta thường có đủ can đảm để chịu đựng nỗi đau của người khác đó sao.

Thoáng thấy những giọt nước mắt vừa trào ra từ khóe mắt con người mà tên tuổi gắn liền với những chiến công hiển hách thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ, nay bổng bị Cảnh Thịnh bỏ rơi, Phan Huy Hạo lặng lẻ cuối đầu.

Một toán quân sắc phục lá, mặt mài hung tợn ập vào nhà Phan Huy Ích giữa lúc ông đang cậm cuội soạn sách trước án thư. Bọn đầu trâu mặt ngựa ấy sau khi nhận ra người cần bắt, đã xong lại túm lấy, đè sập xuống rồi đóng gông, đeo xiềng đẩy vào cũi.

Nhìn thấy cha mái đầu bạc trắng bị hành hạ Phan Huy Hạo liền tách đám đông gia nhân đang sợ phát khiếp, liều mạng xông lại cứu. Lập tức Phan Huy Hạo bị một tên lính đâp mạnh ngă khụy xuống. Đến khi nén đau gượng dậy, chiếc cũi nhốt cha đã được khiêng ra tới cổng. Phan Huy Hạo lại đuổi theo. Khi gần tới nơi, chàng trai hai mươi mốt tuổi ấy bỗng sững lại bởi tiếng gọi giât giọng của cha:

- Hạo! Con hãy trở về!

Phan Huy Hạo chưa dứt cơn kích động:

- Người ta sẽ hành hạ cha đến chết mất!

Giọng người cha bùi ngùi:

- Mấy năm nay cha đã lường trước cơ sự này rồi. Cha biết trước sẽ đến lúc cha chỉ còn tấm lòng cô trung của cha mà thôi.

Cho đến lúc trở về, nhìn thấy tập bản thảo "Bang giao tập" của cha bị bọn lính Nguyễn Ánh vứt rơi lả tả trên sàn gạch, Phan Huy Hạo mới bật khóc rưng rức. Phan Huy Hạo xót xa nghĩ đến hoan lộ của cha. Cũng giống như Ngô Thì Nhậm, cha là người thức thời đã biết gắng bó với phong trào Tây Sơn và sự nghiệp cứu nước nên đã tạo ra được những đóng góp thật xuất sắc đối với thời thế lúc ấy. Chính cha là người cùng Ngô Thì Nhậm chuyên lo việc bang giao với nhà Thanh và là tác giả đã điều khiển việc đưa Phan Công Trị giả làm vua Quang Trung sang nhàThanh năm 1790, hoàn thành xuất sắc việc ngoại giao cần kíp lúc ấy.

Được rèn luyện từ những năm đất nước trải qua những cơn sóng gió và chuyển mình lớn lao, dưới sự trị vì của vị vua anh kiệt, cha đã thật sự được đem tài năng ứng dụng cho đời, lưu được tiếng thơm trong sử sách. Đến khi Triều Cảnh Thịnh bạc đãi, bỏ rơi, tự thấy không còn cơ cứu vãn thời thế, cha lui về quê nhà, cố tìm cách lãng quên bằng công việc trước thuật. Nhưng nay, triều Tây Sơn thế là đã sụp đổ. Nguyễn Ánh lấy được Bắc Hà liền nghĩ cách trả thù các danh sĩ ngoài Bắc. Ngoài cha ra, còn những ai sẽ là đối thủ Nguyễn Ánh trừng trị? Cồn cào lo lắng, Phan Huy Hạo quyết định phải về kinh thành ngay để nghe ngóng tin tức.

Phan Huy Hạo đã trải qua nỗi đau thương chưa từng có khi tận mắt chứng kiến trận đòn thù hằn học theo đúng thể lệ trừng phạt của chế độ phản động nhà Nguyễn đối với những người có đạo học mà lại mắc "Tội theo giặc" ở văn Miếu. Đặng Trần Thường, phải, chính là kẻ từng cầu cạnh, nhờ vả Ngô Thì Nhậm nhưng bị cự tuyệt, đã vào Gia Định theo phò Nguyễn Ánh, nay leo lên được chức phó tổng trấn Bắc thành, thân đứng ra điều khiển cuộc hành hạ bỉ ổi ấy.

Ngô Thì Nhậm, con người mẩn tiệp đã thắng thế trong cuộc giao chiến trên trường văn trận bút với tên Thường đắc chí tiểu nhân, đã phải bỏ mình sau trận đòn một trăm trượng ngay trước Văn Miếu. Còn cha, sau trận đòn thù ấy, tuy may mắn thoát chết nhưng ốm liệt ngường mấy tháng sau mới khỏi hẳn. Hờn căm, uất ức kẻ đã sát hại, hành hạ tàn nhẫn người thân, nhưng Phan Huy Hạo thấy rõ triều Nguyễn Ánh đã được thiết lập trên sự mục nát, bè phái của triều Cảnh Thịnh, khó có thế lực nào đương nổi. Trong không khí khủng bố, trấn áp của triều Gia Long Nguyễn Ánh, Phan Huy Hạo chỉ còn biết sống an phận ở quê hương, lấy việc đọc sách làm vui.

Nhưng rồi những biến động của thời cuộc khiến Phan Huy Hạo không dễ an tâm với cuộc sống của mình. Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi vua, diệt trừ tận gốc các chiến sĩ Tây Sơn, đã mở khóa thi chọn nhân tài, cũng là cách xoa dịu các sĩ phu Bắc Hà. Không ít người khuyên Phan Huy Hạo đi thi. Nhưng Phan Huy Hạo còn dùng dằng chưa quyết. Bởi vì, Phan Huy Hạo chưa dễ quên mối thù của tân triều đối với cha và bác mình. Cũng xung quanh việc thi cử này mà hai anh em Phan Huy Thực, Phan Huy Hạo đã nảy ra cuộc tranh luận gay gắt.

Ấy là sau khi thi đỗ cử nhân ra làm quan cho Gia Long, Phan Huy Thực bảo em:

- Chú là người học rộng, hiểu biết thời thế cả bề rộng lẫn bề sâu, hẳn phải biết tùy thời thế mà hành động, chẳng nên vùi đầu vào sách vở mãi như thế. Trước khi nhắm mắt; cha đã chẳng khuyên tôi và chú phải thức thời sao?

Phan Huy Hạo điềm đạm:

- Cha răn như vậy là vì thương con cái. Vì tình thương, vì thất thế, lời khuyên ấy không phải vì lý. Cũng không phải em chỉ sợ miệng thế cười chê đi phò tá cho kẻ đã hành hạ cha mình.

Phan Huy Thực cườp lời:

- Bất luận thế nào, mọi cái hiện tại đều phải, đều hợp lý. Tốt hơn hết là chú phải tỉnh táo, sáng suốt chọn cho mình con đường vinh thân và giữ được tiếng thơm của dòng họ. Chẳng nên cứ bo bo giữ lấy cái hủ hậu, lỗi thời, không để làm gì đấy!

- Điều này anh nói đúng Phan Huy Hạo thừa nhận. Ta chẳng nên khư khư giữ lấy cái đạo học đã lỗi thời, khép mình vào trong giáo lý cứng nhắc. Khi ấy, nếu là điều phải thì sá gì những dư luận rơm rác. Nhưng thật lòng em thấy tân triều không thu phục được nhân tâm. Thói thường, ai cậy vào sức thì bền lâu sau được?

- Thâm ý chú không phục tân triều?

- Chẳng những thế, chắc gì họ tin dùng ta, con một danh sĩ Tây Sơn? Bởi vậy, dẫu có thi cử chắc gì đỗ đạt cao? Khi ấy chẳng phải chuốc lấy tiếng cười của thiên hạ sao?

- Tôi thực không tài bằng chú nhưng cũng đỗ đạt, được bổ dụng đó sao?

- Ấy là sự khôn ngoan của tân triều. Nhưng không phải vì một việc ấy mà bước đường hoan lộ của bác thông đồng bén giọt đâu!

- Có thể chú nói đúng. Nhưng dẫu sao cũng là cách bảo toàn được mình, tránh được sự dòm dỏ, truy bức một khi chú khăng khăng bất hợp tác với họ. Vậy nên, khoa này chú cũng nên ứng thi. Cổ nhân nói: Biết mà không làm được điều mình biết, ấy là không biết vậy.

Hồi lâu suy nghĩ, Phan Huy Hạo miễn cưỡng:

- Anh đã chân tình khuyên vậy, em lẽ nào không nghe lời.

Do nhiều nguyên nhân: Vì không toàn tâm toàn ý cho việc đi thi, vì lối học của Phan Huy Hạo cốt ứng dụng cho đời chứ không chuyên chú gọt giũa thơ văn nhớ điển tích, còn vì không ít người ghen ghét tài năng xuất chúng của Phan Huy Hạo, đồng thời triều đình ngại e con một danh sĩ có công với triều Tây Sơn, nên hai lần đi thi cả hai lần Phan Huy Hạo chỉ đỗ tú tài. Vì quê hương Phan Huy Hạo ở làng Thầy nên từ đó nhân dân gọi ông là "Kép Thầy".

Dẫu không đỗ đạt cao nhưng Phan Huy Hạo chẳng mấy bận tâm suy nghĩ kết quả thi cử của mình. Ông gác ngoài tai mọi lời đàm tiếu khích bác. Ông đau xót nhận ra rằng, việc ông không đỗ đạt cao để nhiều nho sĩ thường giao du với ông, bỗng dưng vắng bóng. Cái gì khiến cho họ cầu thân để rồi lại xa lánh ông? Phan Huy Hạo tự hỏi phải chăng, ông không đứng trong hàng đại khoa, và do đó, không được triều đình ban cho quyền cao tước trọng? Lòng người đen bạc vậy thay. Bởi thế, Phan Huy Hạo càng quý những nông phu chân thật xung quanh ông và ngày càng gắng bó thông cảm với họ.

Việc Phan Huy Hạo không đỗ cao cũng là cái cớ để ông đoạn tuyệt những tơ vương về công danh, hoàn toàn yên tâm để bắt tay vào công việc đã dự định từ buổi thiếu thời. Muốn xa lánh mọi sự xa hoa phù phiếm để hoàn toàn tĩnh tâm cho công việc mà ông biết phải làm trong nhiều năm, Phan Huy Hạo làm hẳn một ngôi nhà trên núi Sài Sơn, kiên quyết tạ khách, nguyện sống hết mình cho việc trước thuật. Không hiểu được hoài bão ấy của Phan Huy Hạo, nhiều người lầm tưởng con đường "Quay về núi" của ông là hành động của kẻ chán ngán, gặp biến thì lánh đời, hoặc quay về với thiên nhiên để được "Nằm trên đá, ngủ dưới hoa", "đi thung dung, về ngất ngưỡng" như một số nho sĩ lúc ấy đã làm. Trước sau Phan Huy Hạo không một lời thanh minh.

Tự nguyện tách mình ra khỏi những bon chen trên đường công danh lợi lộc để hóa thân cho việc trước thuật với hoài bão để lại cho đời một bộ sách đồ sộ; bao gồm đủ các mặt của đời sống xã hội, Phan Huy Hạo đã thực hiện một nếp làm việc bền bỉ, khắc khổ và với sự cố gắng phi thường. Hàng ngày Phan Huy Hạo thức khuya dậy sớm, mải mê đọc sách, cẩn thận ghi chép, khảo xét, đính chính và viết lời bàn về các mặt tài liệu và phân loại các tài liệu ấy theo từng mục, từng vấn đề đã định trước. Ấp ủ một hoài bão lớn, Phan Huy Hạo cũng làm việc với lòng háo hức và tự tin thực hiện hoài bão đó.

Vốn đã thâu tóm được đầy đủ mối điển chương, tinh hoa của từng loại sách với gia đình, lại mượn được nhiều cuốn sách quý trong kho sách của dòng họ Ngô Thì ở làng Tó, Phan Huy Hạo sớm hoạch định được từng bộ môn cần khảo xét để sắp xếp một cách có trình tự, có hệ thống. Theo sự phân loại, sắp xếp ấy, bộ sách mà Phan Huy Hạo sẵn sàng dành cả đời để làm, gồm có mười bộ môn, còn gọi là mười chí, có quan hệ với nhau và đều là những vấn đề cốt yếu của quốc gia:

Địa dư chí: Khảo về đất đai, phong thổ và lịch sử địa lý Việt Nam qua các đời.

Nhân vật chí: Nói về tiểu sử từ vua chúa, tướng sĩ đến những người trung thần, tiết nghĩa có công với nước.

Quan chức chí: Xét về chế độ quan lại ở Việt Nam.

Lễ nghi chí: Khảo sát các quy định, thể chế, phẩm phục của vua chúa, quan lại cùng các nghi lễ trong triều đình.

Khoa mục chí: Nói về chế độ giáo dục, khoa cử đời xưa.

Quốc dụng chí: Viết về chế độ thuế khóa, tài chính qua các triều.

Hình luật chí: Xét về pháp luật các đời.

Binh chế chí: Khảo về quy chế tổ chức và việc luyện binh qua các đời.

Văn tịch chí: Nói về tình hình sách vở nước Việt xưa.

Bang giao chí: Khảo về việc giao thiệp, nghi lễ đón tiếp sứ thần các nước qua các đời.

Tự thấy dung lượng sách rất lớn; việc làm sách vì vậy rất công phu, nhưng Phan Huy Hạo Phấn chấn, hăm hở làm việc quên mình.

Tiếng trống hội xuân ở làng Thầy nổi lên từng hồi giục giã, có sức hấp dẫn lạ thường. Nghe những âm thanh vang vang náo nức ấy, Phan Huy Hạo thoáng mỉm cười, dừng bút. Không trở về làng vào những ngày Hội vui vì không muốn làm gián đoạn trước thuật nhưng Phan Huy Hạo vẫn biết đó là tiếng trống gọi dân làng khi cuộc thi vật sắp sửa bắt đầu. Vốn là người thích xem đấu vật từ thưở nhỏ, nghe tiếng trống hấp dẫn ấy, Phan Huy Hạo thấy bồn chồn chẳng yên... Ngoài kia mặt trời đã nhô cao.

Những khóm lá đẫm sương đêm tiếp tục bốc hơi. Gió pha lẫn nắng và hơi sương lùa vào căn phòng khiến Phan Huy Hạo thoáng rùng mình. Bị không khí Hội xuân lôi cuốn, mấy lần, Phan Huy Hạo buông bút rồi lại dằn lòng vội vàng cầm lấy bút. Ông muốn quên đi tất cả, quên đi cả âm thanh gợi cảm để chép lại những trang bản thảo đã được sửa chửa rất cẩn thận. Nhưng rồi không tự kiềm chế được bản thân mình, tay vẫn cầm bút, ông miễn cưỡng đứng dậy bước ra ngoài. Trước mặt Phan Huy Hạo, cả Sài Sơn hùng vĩ nhuộm một màu vàng óng ả. Cây Hoàng Đan ngay trước căn nhà đơn sơ, tỏa bóng cả mặt sân.

Lá cây lay động làm cho những chấm nắng vàng nhảy nhót nô giỡn trên áo, trên cả mái tóc sớm điểm bạc của ông. Không biết đã bao năm, Phan Huy Hạo tự nguyện xa lánh bằng hữu, xa lánh những lạc thú, dành tất cả sức lực và sự hăm hở, say mê cho việc soạn sách trong căn nhà quen thuộc và quá tĩnh mịch này. Cũng trong bao năm ấy, ông đã đọc đi đọc lại hàng vạn sách, ghi chép rồi nát óc suy nghĩ viết ra hàng chục vạn trang giấy, để rồi bắt đầu từ hai tháng nay, miệt mài chép lại từng chí đã thảo xong sau bao lần sửa chữa công phu. Trên đầu ông, tóc đã điểm bạc, người ông tiều tụy nhưng tâm hồn ông xiết bao sảng khoái. Ông không ngờ việc trước thuật lại khó khăn đến thế.

Trong những năm soạn sách, ông bỗng hiểu một điều tưởng như bình thường mà lại không dễ dàng: Nghĩ được điều hay, ý đúng đã khó, diễn đạt những ý đã có trong đầu ấy ra trang sách lại càng khó hơn. Ông tự hào đãvượt qua bao lần vì ngại khó định bỏ dở công việc để ép mình vào án thư, cầm lấy bút, khi đầu óc ông muốn vỡ tung ra vì căng thẳng. Ông tự hào vì đã không tiếc công sức đi sâu tìm hiểu cặn kẽ từng bộ môn. Hơn thế, bao quát, hệ thống các kiến thức trong từng bộ môn, đặt nó trong quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau bằng sự hiểu biết uyên thâm và bằng tấm lòng yêu dân, yêu nước của mình.

Ông tự hào đã bằng công trình sưu tầm, khảo xét quy mô, tìm trong hàng đống sự kiện bề bộn sự thực lịch sử cốt lõi, bỏ thô lấy tinh, đồng thời dày công kê cứu bổ sung những tìm tòi của mình để viết ra từng chí, mỗi chí lại chia từng mục, chép riêng từng tập, nối liền với nhau gọi là: Lịch triều hiến chương loại chí. Ông tự hào đã công minh xem xét, đánh giá từng triều đại, ghi chép tiểu sử những người có công với dân nước, nêu gương cho hậu thế. Sau hết, ông vui mừng vì thấy mình đã bày tỏ được tấm lòng thương dân, thông cảm số phận của người nghèo. Lòng thương dân ấy được thấm nhuần qua cách nhìn nhận, đánh giá từng sự kiện, từng việc đã ghi trong sử.

Chẳng hạn, đối với vấn đề ruộng đất, khác với các nhà soạn sách trước, Phan Huy Hạo có cách nhìn nhận hoàn toàn mới mẻ. Theo ông "Chính sách nuôi dân không gì làm cho dân có tài sản; mà muốn cho dân có tài sản, chủ yếu là việc quân điền. Bởi tai họa trong một nước do chỗ ruộng đất không quân bình. Nếu tài sản mọi người được bình thường thì nhân dân tất nhiên được đầy đủ. Chế độ ruộng đất Bắc Hà từ trước đến nay, sổ sách thiếu xót không thể kê cứu được. Nhưng đại thể, ruộng đất của nhân dân để mặt cho bọn cường hào chiếm đoạt. Hơn một ngàn năm nay, những người làm vua làm chúa trong nước không ai khôi phục lại ruộng đất của chế độ đời cổ để trừ bỏ tai vạ cho dân"...

Tiếng trống trong ngày Hội xuân lại từng đợt từng đợt vọng tới, cắt đứt mạch suy nghĩ của Phan Huy Hạo. Phóng tầm mắt nhìn về hướng ấy, ông ngỡ ngàng trước vể đẹp quyến rũ của núi rừng Sài Sơn. Nhưng rồi, nghĩ tới khối lượng công việc đang làm, ông phác một cử chỉ dứt khoát, trở lại án thư, lần giở tập bản thảo. Phan Huy Hạo đọc lại đoạn văn vừa chép vào giấy đẹp:

"Của báo một nước, không gì quý bằng đất đai. Nhân dân và của cải do đấy mà sinh ra".

Đúng vậy Phan Huy Hạo dừng lại suy nghĩ. Mỗi lần luận về cương vực núi sông, luận về công lao xây dựng, bảo vệ giang sơn của tổ tiên, bao giờ Phan Huy Hạo cũng thấy tâm hồn mình phấn chấn. Cho nên, khảo sát về cương vực, phong thổ, xem xét về sự thay đổi địa lý qua các đời, Phan Huy Hạo không quên ghi lại lịch sử đấu tranh vẻ vang của dân tộc vốn có quan hệ mất còn đối với vận mạng của Tổ quốc. Ông hào hứng đọc tiếp:

"... Nhà Đinh nổi lên gây nền thống nhất. Tiền Lê nối sau mở rộng thêm ra, bờ cõi nước Việt ta bấy giờ mới định hẳn. Sau đến Lý, Trần đứng lên chống chọi với Tống, Nguyên. Lê Thái Tổ nổi dậy quét sạch giặc Minh, vận hội đến lúc thịnh, cõi đất ngày càng rộng ra".

Phan Huy Hạo lại dầm bút vào nghiên mực, sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, chép tiếp tập Địa dư chí.

Vừa gượng dậy được sau trận ốm dài ngày vì làm việc quá sức, Phan Huy Hạo đã lại hăm hở bắt tay vào công việc. Và buổi sáng ấy, sau khi chép xong phần chung lời tựa cho bộ sách, Phan Huy Hạo hân hoan xếp lại từng chí để đóng. Vừa khi ấy, vợ ông tay bưng bát thuốc dẫn theo đứa con gái trạc mười tuổi từ nhà dưới đi lên. Thấy chồng có nước da xanh tái, cặm cuội bên chồng sách, thiếu phụ ái ngại đến bên chồng, giọng không vui:

- Thầy nó chưa khoẻ hẳn, chẳng nên gắng gượng như vậy. Thuốc sắc đã được rồi đây, xin thầy nó chịu khó uống cho lại sức.

Nhanh nhẹn đón lấy bát thuốc, Phan Huy Hạo âu yếm nói với vợ:

- Bu nó vừa phải làm lụng nuôi nấng con cái, trong nom nhà cửa vừa phải đi lại hai nơi nuôi chồng. Tôi thực vô dụng.

Cặp mắt rất đẹp của thiếu phụ chợt long lanh:

- Đạo vợ chồng kể chi chuyện ấy. Thấy thầy nó bao năm lao tâm khổ tứ, tôi những giận mình đầu óc ngu tối, chẳng san được nỗi vất vả, khó nhọc cho chồng.

- May thay công việc đã hoàn tất. Chỉ còn đóng lại từng tập nữa thôi.

Ngắm nghía chồng sách đồ sộ, xếp cao ngất trên án thư, vợ Phan Huy Hạo không giấu nổi lòng kính phục. Vốn là người có chút ít học vấn, hiểu được lòng chồng, hơn thế hiểu được sự nghiệp cao cả của chồng, giọng thiếu phụ xúc động:

- Thôi, thầy nó hãy đi nghỉ ngơi. Việc gì không giúp được thầy nó chứ đóng sách, hẳn tôi làm được.

Cảm kích trước tấm lòng của vợ, Phan Huy Hạo vui vẻ:

- Nếu không có bu nó giúp rập, tôi đâu soạn được ngần ấy sách.

Thiếu phụ mặt đỏ bừng:

- Thầy nó nói như thế làm gì? Thầy nó vui là tôi vui. Thấm thoát dã hơn mươiø năm rồi còn gì.

Sực nhớ ra đứa con gái đang tha thẩn chơi ngoài hiên, thiếu phụ gọi con vào và nói với chồng:

- Khi thầy nó vào đây, con bé mới lọt lòng. Nay nó đã hơn mười tuổi mà cha con chẳng mấy lúc được gần nhau.

Đứa bé đến bên cha, giọng rụt rè pha chút nũng nịu:

- Nay mai thầy sẽ về hẳn ngoài làng chơi với chúng con, phải không thầy? Thôi, thầy đừng ở trong núi nữa, con nhớ thầy lắm.

Phan Huy Hạo vụng về kéo con vào lòng. Những điều vợ con ông vừa nói không có hàm ý trách móc nhưng lại khơi dậy trong ông nỗi buồn vui xen kẽ. Vui vì ông đã bỏ trọn ra mười năm hoàn toàn hiến thân cho việc trước thuật để viết được bốn mươi chính tập sách bao gồm mười bộ môn lưu lại đời sau. Vui vì ông đã đổi những năm tuổi trẻ bằng nghị lực phi thường để thực hiện hoài bảo của ông từ buổi thiếu thời.

Buồn vì trong bao năm ấy, ông không giúp đỡ được vợ con, phó mặc hoàn toàn việc gia đình cho vợ. Ông khổ tâm khi nghĩ rằng, vì sự nghiệp trước thuật của ông, người vợ mà ông rất mực yêu quý và chịu ơn đã chịu bao thiệt thòi, hy sinh để gánh vác mọi công việc, tự nguyện hứng chịu bao vất vả để ông yên lòng đèn sách. Và đứa con gái bé bỏng này nữa. Nghĩ vậy, ông vuốt tóc con:

- Ngày mai, thầy sẽ về ở hẳn với con. Thầy sẽ dạy con học.

Quả như lời Phan Huy Hạo nói với con. Sau khi soạn xong "Lịch triều hiến chương loại chí" bộ sách đồ sộ gồm bốn mươi chính tập mà người đời sau xem như một công trình nghiên cứu đánh dấu bước phát triển cao của thành tựu khoa học nước nhà, bộ sách mà nhờ nó, tên tuổi Phan Huy Hạo được tôn sùng, nhân dân gọi ông là nhà bác học, nhà soạn bách khoa toàn thư của Việt Nam ông đã trở về đoàn tựu với gia đình. Phan Huy Hạo đâu ngờ, sau đó không lâu, tài năng của ông lan truyền khắp nước và đời ông bước sang một khúc ngoặt hoàn toàn bất ngờ. Vua Minh Mệnh hay biết, năm 1821 đã xuống chiếu vời ông về kinh.

Được vua Minh Mệnh vì chuộng tài, trao cho bức biên tu trường Quốc Tử Giám, nhất là khi dâng "Lịch triều hiến chương loạt chí" được vua khen thưởng, Phan Huy Chú phần nào vơi được nổi băn khoăn bấy lâu. Trong sự suy tưởng của ông, Minh Mệnh tuy tự phụ, độc ác nhưng là vị vua biết quý trọng nhân tài. Nếu quả vậy, ước mơ đem việc học ứng dụng cho đời, đem vốn hiểu biết đả tích lủy được bao năm, làm lợi cho dân nước của Phan Huy Chú sẽ có cơ thi triển dược. Ý nghĩ ấy thôi thúc Phan Huy Chú nghiên cứu tìm ra con đường trị đời cứu nước.

Về mặt này, Phan Huy Chú có nhiều thuận lợi. Do học rộng, ông có cái nhìn bao quát. Từng sống ở thôn giả, ông hiểu được nổi khổ của dân nghèo. Ý nghĩa muốn đem tài năng giúp đời khiến Phan Huy Chú lưu tâm tìm hiểu cơ sở trị nước của triều Nguyễn, tìm hiểu lẽ thịnh suy của các triều đại trước, mong có dịp dùng đến.

Bởi ấp ủ tấm lòng ưu ái vì dân nước, năm 1823, khi được thăng chức Lang trung bộ Lại, Phan Huy Chú đã mạnh dạn dâng sớ đều trần về bốn việc:

Trước hết Phan Huy Chú khuyên vua hãy xem dân là gốc của nước. Gốc có vững xã tắc mới yên. Muốn vậy, triều đình phải thu sức dân, phải bớt thuế, bớt lính và bớt những phiền hà khác.

Thứ hai Phan Huy Chú khuyên vua hãy thực hiện chế độ quân điền. Theo ông mục đích của việc thực hiện chế độ quân điền nầy là làm thế nào cho dân từ một tấc đất điều được khai khẩn mọi người điều có ruộng làm, chữa khỏi các bệnh đau khổ của người nghèo, dập tắt được nạn lấn chiếm của bọn cường hào lý dịch. Khi đân đã có tài sản bình thường để cải thiện đời sống, họ sẽ ra công cày cấy làng xã sẽ được yên vui, tiến lên làm việc dạy dân chúng xây dựng phong tục.

Thứ bằng Phan Huy Chú khẩn thiết khuyên vua bãi bỏ những cuộc hành binh dẹp loạn. Theo ông, dân nổi loạn là vì đói rét mà sinh ra. Nếu không giúp dân được no đủ thì mầm loạn không thể nào dứt được.

Cuối cùng Phan Huy Chú khuyên vua hãy nghiêm trị bọn sâu mọt chuyên đục khoét lương dân. Ông lập luận: Tự mình thu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh, dân bắt chước người trên thì nhanh hơn pháp luật; pháp luật mà không thi hành được là do người trên phạm.

Thảo xong bản đều trần gói gọn những ý trên, Phan Huy Chú vội dân vua. Ông hy vọng nếu vua nghe theo những lời tâu ấy, họa hoạn sẽ dứt, nước sẽ thịnh, dân sẽ giàu. Ông vui mừng vì đã thực hiện được một việc nghĩa. Một vị vua anh minh không thể không lưu tâm nghe những lời khuyên của ông.

Vừa bãi triều, vua Minh Mệnh sửa soạn về cung riêng thì viên phụ chính vội vả bước vào.

- Trẫm biết khanh không được khỏe. Vậy có việc gì cần tâu bày mà khanh vất vả vậy?

- Muôn tâu Thánh Thượng viên phụ chính quỳ tâu thần đã xem bản sớ dâng Thánh Thượng của Lang trung bộ Lại Phan Huy Chú. Xét thấy tờ sớ có nhiều ý tưởng mới lạ, thần vội làm lể triều kiến dâng Thánh Thượng.

Vua Minh Mệnh dáng không vui:

- Phan Huy Chú! Trẫm nhớ rồi, người đã dâng "Lịch triều hiến chương loại chí" và đã được trẫm ban thưởng!

Muôn tâu Thánh thượng! Chính là con người có thực tài ấy.

Cho viên phụ chính được bình thân, vua Minh Mệnh cầm lấy tờ sớ chăm chú đọc. Nét mặt vua biến đổi theo những việc viết trong bản điều trần. Đến khi đọc xong, cặp mắt của vua bỗng long lên, khóe môi rần rật. Vua vỗ ngai quát:

- Khanh đã đọc kỹ tờ sớ này chưa?

Hoảng hốt trước cơn thịnh nộ của nhà vua, viên phụ chính lúng túng:

- Lệ thường, thần đã xem qua. Thật là một con người táo bạo.

- Sao? Vua Minh Mệnh mặt tái đi khanh không thấy hắn viết những điều ngông cuồng bậy bạ, có ý dạy đời đó hay sao?

Viên phụ chính lấp lửng:

- Thần cũng thấy nhưng có điều gì không phải?

Thích thú thấy bề tôi luống cuống, Minh Mệnh bật cười:

- Huy Chú cần tiến thân mong được trẫm cất nhắc như bọn Mao Toại tự tiến. Con người ấy thật lắm tham vọng.

Viên phụ chính lộ vẻ hân hoan:

- Tâu Thánh thượng! Mao Toại là người có tài trí. Nhờ được trọng dụng mà nước Trièu trở nên có thanh thế.

Vua Minh Mệnh giọng khinh khỉnh:

- Vua nước triệu ít mưu mẹo nên mới phải dùng Mao Toại. Còn trẫm, trẫm đâu cần phải nghe một viên tiểu quan như Chú.

Vốn khăm phục Phan Huy Chú về tài năng, lại dám khảng khái tâu rõ hiện tình đất nước loạn lạc việc mà chưa một viên quan nào, kể cả các đại thần dám tâu vua, phải không có những ý sắc sảo, nhưng biết vua tự phụ, viên Phụ chính chỉ lặng im không nói.

Trong lúc ấy, lần nữa đọc qua bản điều trần của Phan Huy Chú, vua Minh Mệnh trì triết:

- Phan Huy Chú là con một đại thần của Tây Ngụy. Nhờ có chút học vấn, trẫm không nở hẹp lượng mà trọng dụng hắn. Ai dè hắn không biết mình biết người, muốn trèo cao bay xa, ăn nói như một kẻ mất trí. Hãy xem trong lúc giặc cỏ nổi lên làm loạn, hắn khuyên trẫm bãi binh dẹp loạn? Trong lúc trẫm ban thưởng ruộng đất cho kẻ có công, hắn khuyên trẫm ban ruộng đất cho dân đen? Nếu trẫm không muốn mang tiếng ác, riêng những việc sàm tấu này cũng đủ giao hắn cho hình quan xét xử.

Viên phụ chính can vua:

- Thần xét thấy Phan Huy Chú nghĩ viễn vông vậy chứ không cố ý phạm thượng. Vậy để răn đe Chú, lưu được tiếng nhân đức, thánh thượng chỉ cần trả lại tờ sớ cho họ Phan là đủ.

Vua Minh Mệnh dịu giọng:

- Nể khanh, trẫm bỏ qua cho hắn một lần.

Cái tin Phan Huy Chú dâng sớ điều trần bốn việc bị vua Minh Mệnh quở trách, trả lại, đã không cánh mà bay, lan nhanh trong giơiù quan trường ở kinh đô. Hay tin ấy, Phan Huy Thực lật đật tìm em, giọng không vui:

- Chú là người học rộng mà sao cạn nghĩ vậy? Chú không biết vua thường sợ và nghi kỵ kẻ có tài, nhất là các sĩ phu Bắc Hà; cho nên luôn luôn xét nét, kiếm cớ răn đe quan lại đó sao? Chú phải cẩn thận kẻo mang vạ!

Phan Huy Chú than thở:

- Em những tưởng đã cốt vì thiên hạ thì phải không sợ chết để đem cái học vấn của mình phụng sự cho dân nước. Người xưa đã chẳng nói: Lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Nói khó nghe là thuốc, nói ngọt là bệnh tật đó sao? Em đâu ngờ là sự thể này!

Phan Huy Thực trách:

Chú bao năm vùi đầu vào trước thuật không còn biết lẽ sống ở đời. Chú quên rằng, khi đã bình được thiên hạ, các bậc đế vương ưa dùng bọn xu nịnh hơn là các trung thần đó sao? Họa, phúc là chính bởi từ đấy mà sinh ra.

Phan Huy Chú chua chát:

- Thật là một ngàn lời khuyên không bằng một cái gai kinh nghiệm. Có lẽ em cứ giả câm giả điếc là hơn.

- Tùy chú, nhưng nói thẳng mà sinh họa thì có ích gì? Trí địch muôn người mà không hiểu người thì cũng như người ngu vậy!

Bị trách móc nặng nề nhưng Phan Huy Chú không giận anh. Ngược lại, anh thấy rõ nhân cách của vua Minh Mệnh và tự thấy thương mình.

Phan Huy Chú không vội từ quan nhưng cũng giống như nhiều bậc tài trí khác thời ấy, ông không bao giờ được vua thực dụng tin dùng. Từ sau lần bị Minh Mệnh đối xử thô bạo, ông trở nên rất kín đáo. Không vội từ quan vì sợ mang lụy, nhưng Phan Huy Chú không còn những hăm hở buổi đầu nữa. Trí giúp dân dựng nước, ý muốn đem tài kinh luân thi thố cho đời, vì vậy, chỉ còn là những tâm sự u uất. Cho nên, hơn mười năm làm quan dù có lúc thăng Hiệp trấn Quảng Nam, từng hai lần đi sứ, nhưng ông vẫn luôn bị vua trách phạt.

Cuối cùng, chán cuộc đời làm quan, Phan Huy Chú vịn cớ đau yếu, xin từ quan về nhà mở trường dạy học.

Sống ở quê, thoát ra khỏi vòng vây ngột ngạt của triều đình Minh Mệnh, Phan Huy Chú thấy thanh thản trở lại. Đêm đêm ông lại chong đèn viết sách không mỏi. Một ngày thu năm 1840, Phan Huy Chú đã mất ngay cạnh chồng bản thảo vừa hoàn thành, thọ năm mươi tám tuổi.