PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Louis Daguerre , Louis-Jacques-Mandé Daguerre.



admin
18-11-2011, 12:34 AM
Louis Daguerre là một nghệ sĩ, nhà hóa học người Pháp, Louis Daguerre được xem như phát minh ra chụp hình thực tiễn.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d9/Louis_Daguerre.jpg/250px-Louis_Daguerre.jpg

Louis-Jacques-Mandé Daguerre.


http://dslrcinematics.files.wordpress.com/2010/11/louisdaguerre.jpg

Đại lộ Temple, bức ảnh nổi tiếng do Louis Daguerre chụp ngày 4 tháng 5 năm 1838 tại Paris. Bức ảnh Louis Daguerre chụp một con phố trong khoảng thời gian 10 phút, do hạn chế về kỹ thuật ở thời kỳ đó. Tất cả các xe cộ chuyển động đều không hiện trong tấm hình. Riêng ở góc trái, một người đàn ông đứng yên để đánh giày và đây là tấm hình đầu tiên có ghi lại hình ảnh con người.




Louis Daguerre
AKA Louis-Jacques-Mandé Daguerre

Born: 18-Nov-1787
Birthplace: Cormeilles, France
Died: 10-Jul-1851
Location of death: Bry-sur-Marne, France
Cause of death: Heart Failure

Gender: Male
Race or Ethnicity: White
Sexual orientation: Straight
Occupation: Inventor, Photographer

Nationality: France

Executive summary: Invented Daguerreotype photography

French painter and physicist, inventor of the daguerreotype, born at Cormeilles, in the department of Seine-et-Oise, and died on the 12th of July 1851 at Petit-Brie-sur-Marne, near Paris. He was at first occupied as an inland revenue officer, but soon took to scene painting for the opera. He assisted Pierre Prévost (1764-1823) in the execution of panoramic views of Rome, Naples, London, Jerusalem, and Athens, and subsequently (July 11, 1822), in conjunction with Bouton, he opened at Paris the Diorama, an exhibition of pictorial views, the effect of which was heightened by changes in the light thrown upon them. An establishment similar to that at Paris was opened by Daguerre in Regent's Park, London. On the 3rd of March 1839 the Diorama, together with the work on which Daguerre was then engaged, was destroyed by fire.


This reverse of fortune was soon, however, more than compensated for by the distinction he achieved as the inventor of the daguerreotype photographic process. Nicéphore Niépce, who since 1814 had been seeking a means of obtaining permanent pictures by the action of sunlight, learned in 1826 that Daguerre was similarly occupied. In 1829 he communicated to Daguerre particulars of his method of fixing the images produced in the camera lucida by making use of metallic plates coated with a composition of asphalt and oil of lavender; this, where acted on by the light, remained undissolved when the plate was plunged into a mixture of petroleum and oil of lavender, and the development of the image was effected by the action of acids and other chemical reagents on the exposed surface of the plate. The two investigators labored together in the production of their heliographic pictures from 1829 until the death of Niepce in 1833.


Daguerre, continuing his experiments, discovered eventually the process connected with his name. This, as he described it, consists of five operations: the polishing of the silver plate; the coating of the plate with iodide of silver by submitting it for about 20 minutes to the action of iodine vapor; the projection of the image of the object upon the golden-colored iodized surface; the development of the latent image by means of the vapor of mercury; and, lastly, the fixing of the picture by immersing the plate in a solution of sodium "hyposulphite" (sodium thiosulphate).


On the 9th of January 1839, at a meeting of the Academy of Sciences, François Arago dwelt on the importance of the discovery of the daguerreotype; and, in consequence of the representations made by him and Gay-Lussac to the French government, Daguerre was on the 15th of June appointed an officer of the Legion of Honor. On the same day a bill was presented to the chambers, according to the provisions of which Daguerre and the heir of Niepce were to receive annuities of 6000 and 4000 francs respectively, on the condition that their process should be made known to the Academy. The bill having been approved at the meetings of the two chambers on the 9th of July and on the 2nd of August, Daguerre's process, together with his system of transparent and opaque painting, was published by the government, and soon became generally known. Daguerre wrote a memoir, Historique et description des procédés du daguerréotype et du diorama (Paris, 1839), and another work, Nouveau moyen de préparer la couche sensible des plaques destinées à recevoir les images photographiques (Paris, 1844).


Father: Louis Jacques Daguerre (b. circa 1761)
Mother: Anne Antoinette Hauterre (b. 7-Jul-1766)
Sister: Marie Antoinette Ulalie Daguerre (b. 11-Sep-1791)
Wife: Louise Georgina Arrow-Smith (m. 10-Nov-1810, d. 24-Mar-1857)

Tichuot
18-11-2011, 11:15 AM
Louis Daguerre (18/11/1787 - 10/7/1851) là ( ai ) một nghệ sĩ, nhà hóa học người Pháp, Tên đầy đủ là Louis-Jacques-Mandé Daguerre - người được công nhận cho sự phát minh ra quy trình nghệ thuật chụp hình thực tiễn.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2e/Louis_Daguerre_2.jpg/220px-Louis_Daguerre_2.jpg

Người được lịch sử xếp hạng có công lao to lớn trong kỹ thuật chụp ảnh là Louis Daguerre. Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1787 tại Cormeilles- en-Parisis, Val-d Oise, miền bắc nước Pháp.



http://cbs.com.vn/forum/images/cbsfoto/tintuc/niepce-pic.jpg

http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/11/17/21btime032.jpg

Những bức ảnh của Louis Daguerre

Thập niên 30 của thế kỷ XIX, Louis Daguerre đã phát minh thành công kỹ thuật chụp ảnh. Thời thanh niên ông là một nhà nghệ thuật. Đến năm hơn 30 tuổi, ông thiết kế ra một loại kính đặc biệt, dùng hiệu quả đặc thù để làm hiện lên toàn cảnh của một bức tranh. Trong khi ông theo đuổi công việc làm đó thì nảy sinh ra ý tưởng muốn chế tạo một chiếc máy không cần bút vẽ, không cần sơn dầu mà có thể tự động hiện ra mọi cảnh tượng tức là sáng chế ra một máy chụp ảnh.

Sự cố gắng của ông lúc đầu nhắm chế tạo ra một chiếc máy chụp ảnh thực dụng đã không thành công. Năm 1827, ông gặp Nielfs. Có lẽ lúc đó Nielfs cũng đang cố gắng thiết kế ra một chiếc máy ảnh. Hai năm sau họ trở thành đôi bạn cùng cộng tác với nhau. Năm 1833, Nielfs đột ngột qua đời, Daguerre kiên trì tiếp tục công trình nghiên cứu của mình. Đến năm 1837, ông mới thành công trong việc phát triển một hệ thống chụp ảnh có giá trị thực dụng. Thiết bị đó được goị là máy chụp ảnh Daguerre.

Năm 1839, Daguerre công bố trước công chúng chiếc máy chụp ảnh đầu tiên của mình nhưng không xin được bằng sáng chế độc quyền. Đáp lại, chính phủ Pháp đã cấp tiền trợ cấp hàng năm cho con của Daguerre và Nielfs. Sự công bố về phát minh của Daguerre đã gây dư luận xôn xao trong công chúng. Daguerre đã trở thành nhân vật anh hùng và đón nhận nhiều danh dự. Cúng lúc đó, chiếc máy ảnh của ông thiết kế đã nhanh chóng được sử dung phổ biến rộng rãi. Sau đó không lâu, Daguerre nghỉ hưu.

Rất ít có phát minh nào được sử dụng rộng rãi nhiều mặt như máy ảnh. Thực tế, nó đã được sử dụng rộng rãi mọi lĩnh vực trong nghiên cứu khoa học. Đối với một số người thì chụp ảnh là một hình thức nghệ thuật nghiêm túc, còn đối với hàng trăm triệu người khác, nó là một trò chơi vui vẻ được nhiều người ưa thích. Một bức ảnh chụp sẽ mang đến cho chúng ta tin tức về giáo dục thời sự và quảng cáo. Một bức ảnh chụp làm cho chúng ta hồi ức lại quá khứ một cách sinh động. Nó là một vật thường thấy nhất trong các đồ kỷ niệm. Tất nhiên là kỹ thuật quay phim trong điện ảnh cũng là một bước phát triển quan trọng của kỹ thuật chụp ảnh, ngoài việc phục vụ giải trí, nó còn được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực cũng giống như chụp ảnh.

Không có một phát minh nào là công lao của một người duy nhất. Trước Daguerre đã có nhiều việc cần thiết được chuẩn bị cho sự phát triển của bản thân ông. Hộp đen (một dụng cụ tương tự như máy ảnh có một lỗ thủng nhỏ nhưng không có phim) đã được phát minh trước Daguerre 800 năm. Thế kỷ thứ XVI, Gerolamo Cardano đã tiến một bước dài trong việc làm thế nào lắp được thấu kính vào lỗ thủng của hộp đen, mở màn cho việc phát minh ra máy ảnh hiện đại được mọi người yêu thích. Do hình ảnh của nó cơ bản không thể giữ lại được nên chưa thể xem là một máy chụp ảnh. Một sự phát hiện có tính chất chuẩn bị quan trọng hơn nữa do Theodore Whilliam Schultz hoàn thành vào năm 1727. ông phát hiện ni-tơ-rát bạc là chất có cảm ứng nhạy đối với ánh sáng. Mặc dù ông đã dùng phát minh đó để tạo ra được một số hình ảnh mà tạm thời có thể bảo lưu được nhưng Schultz không đi sâu nghiên cứu thêm về phát hiện đó.

Người đi đầu gần với Daguerre nhất là Nielfs sau này trở thành người cộng tác với Daguerre. Năm 1820 Nielfs phát hiện được một loại hắc ín ở vùng Jutia (một khu vực phía nam của Pa-lex-tin cổ) có tính chất nhạy cảm đối với ánh sáng. Kết hợp một chiếc hộp đen với vật liệu nhạy cảm ánh sáng, Nielfs đã chế tạo thành công một máy chụp ảnh đầu tiên trên thế giới (hiện nay người ta còn lưu giữ được chiếc máy chụp ảnh do ông chế tạo vào năm 1826). Chính vì vậy mà có một số người cho rằng Nielfs phải được công nhận là người phát minh ra máy ảnh đầu tiên. Nhưng phương pháp chụp ảnh của Nielfs hoàn toàn không thể sử dụng một cách tiện lợi, nó phải mất tám tiếng đồng hồ đưa ra ánh sáng mới hiện lên hình ảnh. Tuy nhiên, sau đó vẫn chỉ có được một bức ảnh lờ mờ.

Phương pháp của Daguerre là hình ảnh được ghi lại trên một miếng gỗ phẳng có thoa chất i-ốt bạc. Đưa ra ánh sáng từ 15 tới 20 phút là xong. Tuy phương pháp này còn phiền phức nhưng đã trở thành thực dụng. Trong vòng hai năm sau khi Daguerre công bố phương pháp chụp ảnh của mình thì những người khác đã đề xuất một cải tiến nhỏ là thêm vào chất i-ốt bạc một lượng brôm bạc, chỉ một tí thay đổi đó đã giúp cho tác dụng cảm quang được nhanh hơn làm cho máy ảnh càng trở nên thực dụng.

Năm 1839, ít lâu sau khi Daguerre công bố phát minh của mình thì một nhà khoa học của nước Anh là Wiliam Henry Fox Talbot đã công bố phương pháp chụp ảnh đã cải tiến của mình. Nó giống như phương pháp chụp ảnh hiện nay chúng ta đang sử dụng tức là dùng âm bản để chụp ảnh. Một sự ghi lại hình ảnh khiến cho mọi người đều cảm thấy hết sức thú vị. Trên thực tế, vào năm 1835 Talbot đã có được bức ảnh đầu tiên của ông. Việc đó xảy ra sớm hơn hai năm trước khi Daguerre công bố kỹ thuật nhiếp ảnh của mình. Talbot do cùng một lúc còn theo đuổi một số công trình nghiên cứu khác nên không thể nhanh chóng tiến hành việc thực nghiệm về nhiếp ảnh đến nơi đến chốn. Nếu ông có thể làm như vậy thì rất có khả năng đưa hệ thống nhiếp ảnh của mình vào khai thác thương mại trước Daguerre.

Ngày 19 tháng 8 năm 1839, chính phủ Pháp tuyên bố phát minh này là “món quà tặng miễn phí cho toàn thế giới”.

Sau phát minh ra kỹ thuật nhiếp ảnh của Daguerre và Talbot thì kỹ thuật nhiếp ảnh đã có những bước cải tiến lớn lao như việc xử lý âm bản theo dạng ướt, xử lý âm bản theo dạng khô rồi tiến tới có những cuốn phim như hiện nay như phim màu, điện ảnh, nhiếp ảnh bằng đèn chớp và máy phô-tô-cóp-pi. Mặc dù có rất nhiều người tham gia vào việc phát triển kỹ thuật nhiếp ảnh nhưng dư luận nói chung vẫn đánh giá sự cống hiến của Daguerre là quan trọng nhất. Trước ông, không có một hệ thống nhiếp ảnh nào được gọi là thực dụng trong khi thiết kế của ông đứng về mặt kỹ thuật là hoàn toàn thực dụng và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi. Hơn nữa, sự phát minh mang tính đại chúng hoá của ông đã có tác dụng xúc tiến to lớn đối với sự phát triển của ngành nhiếp ảnh.

Daguerre mất ngày 10 tháng 7 năm 1851tại Bry-sur- Marre cách thủ đô Pa-ri 12 km. Khu mộ ông tại đây có một tượng đài trang trọng để tưởng nhớ tới người con vinh quang này của nước Pháp.